Liên Hoa Hóa Sanh - Pháp Sư Đạo Chứng

Phần 2 - Các Khảo Đề Để Tu Hành

trước
tiếp

***

 

Những đề tài mà thầy giáo đã khảo hạch học sinh lớp trên, được học sinh đang học gọi đùa là “đề khảo cổ”. Học sinh nghiên cứu đồ khảo cổ để có thể hiểu trọng điểm của cuộc thi, để thành tích trong cuộc thi này và trong cuộc thi tới được tốt đẹp. Việc tu hành cũng như vậy.

Trên bước đường tu hành, ngày ngày đều có khảo đề, thời thời đều có khảo đề. Hành giả nghiên cứu các khảo cổ đề của các bậc Đại Đức, có thể biết được trọng điểm của việc tu hành, đề cao cảnh giác. Trong những khảo nghiệm sinh mệnh hiện tại và vị lai không có khảo nghiệm nào là không có ích lợi!

“Khảo cổ” để nay dùng. Lão Hòa thượng Quảng Khâm – Các khảo đề để tu hành (khảo cổ đề).

Chúng tôi học tại y học viện, học làm cách nào để cấp cứu bệnh nhân, bước thứ nhất là gì, bước thứ hai là gì, bước thứ ba là gì. Trong kỳ thi viết chỉ cần theo sách mà nêu cho rõ ràng là được. Nhưng khi lâm sàng thực tế khám bệnh nhân thì tình hình lại không phải như thế!

Ví dụ, nửa đêm trực ban đưa tới một bệnh nhân bị thương vì xe đụng. Mới nhìn qua thấy đùi người ấy bị xe cán máu thịt bầy nhầy, bàn chân bị rất nhiều mảnh kính vỡ đâm vào.

Người này lại là người nhạy đau, dễ chảy máu và hay kêu la. Trong lúc xử lý anh ta cứ một mực rên la dùng “Tam tự kinh” mà mắng chửi bác sĩ. chúng tôi quyết lòng cứu anh ta, đã không được nương tay, lại không được giận, càng không được phiền hà, và phải nhất nhất tuân theo những điều nói trong sách, làm theo bước một, bước hai. Thi viết, viết ra đáp án thì dễ, nhất nhất theo đó mà làm thì không đơn giản. Phải lấy ra hết sạch từng mảnh kiếng vỡ, phải tiếp nối lại các đầu xương cho khéo, lại phải khâu những miệng vết thương cho khéo, có khi phải đứng suốt đêm, đứng cho đến sáng cũng chưa xử lí xong, phải chịu đói, chịu mệt, thậm chí không đi vệ sinh được. Quá trình nhẫn nại ấy so với việc thi viết ở trường rất khác nhau!

Quá trình tu hành trong đời của chúng ta cũng giống như thế. Đọc kinh Phật, làm công quả sáng tối lại khổ cực trăm bề. Theo kinh mà thực hành lại càng khó hơn, thường là không đúng hợp, té chảy máu đầu cũng cứ tiếp tục theo đó mà làm. Nói chung, các loại quá khứ ví như đã chết hôm qua, các thứ sau này ví như mới sinh hôm nay. Ngay khi tà tri tà kiến trong lòng “chết” thì chánh tri chánh kiến “sanh”. Phiền não vọng tưởng tiêu mất rồi thì pháp thân tuệ mạng bừng phát.

May mắn thay, trong quá trình, tôi gặp được bậc thầy tốt, giống như khi lâm sàng gặp được vị giáo sư giỏi. Chư vị ấy thường biết vận dụng cơ duyên để đưa ra các khảo đề, giúp chúng ta bồi dưỡng thực lực.Khi gặp cơ duyên thuận tiện, chư vị cũng vận dụng kinh nghiệm tu hành của chính mình, dùng những lời chỉ dạy thích đáng mà giúp chúng ta qua cửa khó khăn.

Hai vị ân sư tu sĩ của tôi là hai Tỳ kheo ni theo lão Hòa thượng Quảng Khâm tu hành gần hai mươi năm. Hai vị thường nêu ra những lời khai thị và khảo đề của lão Hòa thượng Quảng Khâm. Lão Hòa thượng không những có công phu tu chứng rất cao, mà còn là thiên tài về giáo dục. Ngài đưa ra các khảo đề mà học sinh chưa sẵn sàng giải đáp. Người bình thường không để tâm đến đạo Phật, khi gặp phải khảo đề này, nhất định phải khóc hu hu. Nếu như Ngài báo trước rằng bạn sẽ bị khảo hạch thì đương nhiên bạn sẽ đề cao cảnh giác, nhưng vấn đề là Ngài không chịu báo trước cho bạn biết mà cứ vào lúc ấy là Ngài đem hoàn cảnh ngay đấy ra mà sát hạch, để xem thực lực của bạn như thế nào khi bạn không chuẩn bị.

Tôi thường nghe hai vị ân sư nói về quá trình tu hành của chính mình. Tôi thường rất cảm động, so với hoàn cảnh và khảo đề của hai vị thì khảo đề của tôi thật quá đơn giản.

Nếu như ở nhà trường chúng ta bị sát hạch bằng đề đúng sai, thầy giáo đưa ra đề rằng:

Qua ngã tư đường, thấy đèn đỏ thì hãy qua luôn, thấy đèn xanh thì hãy dừng lại. Đương nhiên bạn sẽ hiểu phải đánh dấu X và biết rằng thầy giáo đang sát hạch bạn có biết luật lệ giao thông không. Nhưng nếu trong đời sống thực tế, có người cố ý bóp méo sự thật hoặc làm cho sự việc sai khác đi thì liệu chúng ta có phát hiện được rằng mình đang bị sát hạch bằng đề đúng sai không? Và liệu chúng ta có đủ sáng suốt bình tĩnh mà trả lời như trước chăng? Nếu như trong đời sống chúng ta không phát hiện được chúng ta đang bị sát hạch bằng đề đúng sai, thì có thể chúng ta rất buồn khổ, có cảm giác đâu đâu cũng không có đạo lí, và rất đáng giận, không thể chịu đựng nổi. Như thế là không đáp ứng được cuộc sát hạch.

Trong cuộc khảo hạch ở đời, mọi người chúng ta đều giao nộp bản thành tích của mình.

Cùng một đề của thầy, đáp án của mỗi học sinh đều không giống nhau. Thành tích của mỗi người đều không giống nhau. Ví như một bà cụ quở trách bọn con dâu, mỗi người dâu nghe xong đều có cách suy nghĩ không giống nhau. Cách suy nghĩ của mọi người khác nhau nên đáp án của mỗi người đưa ra không giống nhau, thành tích mỗi người đạt được không giống nhau. Bà cụ có thành tích của bà cụ, các người dâu có thành tích của người dâu. Đề khảo hạch tự nó không có chỗ tốt xấu có thể nêu ra được nhưng tâm tình của mỗi người được khảo hạch không giống nhau, đáp án của mỗi người cũng có trình độ khác nhau. Thế gian này là một nơi tuyển chọn Phật, các việc lớn nhỏ trong sinh hoạt bình thường là những cuộc khảo thí lớn nhỏ. Do đó, trong cuộc thi tuyển, người được trúng tuyển thì được vãng sinh Tây Phương thành Phật.

Ân sư bảo tôi: lão Hòa thượng Quảng Khâm thường cứ vào sáu giờ sáng, thì đi kinh hành trong chùa để xem xét. Ngài thường lặng lẽ quan sát xem người nào chuyên chú lạy Phật, niệm Phật, người nào dụng công ít ỏi. Ngài

 

tìm vị đệ tử nào dụng công nhiều nhất, bất kể như thế nào, Ngài mắng cho một trận, thậm chí nói những điều oan ức. Lão Hòa thượng thực hiện kỹ xảo lại rất cưỡng áp. Nếu người đệ tử ấy động tâm, thậm chí giận dỗi, thì Hòa thượng mỉm cười lắc đầu mà nói: “Ta tưởng đâu ông dụng công nhiều, ta mới nói có mấy câu như thế mà đã không chịu được. Ôi, công phu còn cạn cợt!”

Nếu lão Hòa thượng không nói câu cuối cùng này, có thể người đệ tử bị quở trách không thể nghĩ sao cho được. Đây là một đề khảo hạch. Vì không phát hiện đây là đề khảo nên không biết Hòa thượng làm như thế là muốn xem đáp án chúng ta giao nộp như thế nào; không biết Lão Hòa thượng muốn xem chúng ta hiểu và hành Phật pháp như thế nào nên Ngài mới bày ra hoàn cảnh như thế. Vì cứ một mực không biết cho nên gọi là “bất giác”.

Không có tâm luôn giác tỉnh tức là vô minh, hồ đồ. Phật là bậc giác ngộ, chúng ta không luôn giác tỉnh, chính vì chúng ta không học Phật. Đức Phật A Di Đà là “Vô Lượng Giác”, chúng ta thường bất giác vì không niệm Phật. Tuy sáng sớm thức dậy làm công quả, làm đến nửa ngày thì lại “bất giác”. Đó là uổng phí công phu, dù cho có đọc sách lắm công phu, thì cũng không được trúng tuyển?

Có một vị cư sĩ nghe tới đây thì rất vui mừng nói với tôi: “Như thế thì tôi biết rồi! Thầy tôi cũng thường dậy rất sớm mà quở trách tôi, quở đông quở tây, quở rất oan uổng, tôi rất oán giận. Không biết đời trước tôi nợ ông bao nhiêu lời trách mắng? Nay tôi biết rồi, tôi xem ông như Lão Hòa thượng Quảng Khâm, sáng sớm đi xem xét, ra đề khảo hạch cho tôi, như thế thì tôi rất sung sướng. Tôi lấy đề đó mà nghiên cứu, rất vui mừng mà đến Tây Phương!”

Vị nữ cư sĩ này quả thực có giác tính, nghe xong công án của chuyện xưa, liền có thể lấy đó mà tự dụng, quay thẳng về tự tính. Người mà tôi kể chuyện (Lão Hòa thượng Quảng Khâm) không giống như người mà bà đã nghe (vị thầy của cô ta). Người có thể áp dụng khảo cổ đề một cách linh hoạt, tất nhiên có thành tích ưu tú!

Có thể chúng ta vào buổi sáng sớm đọc kinh Kim Cang – “phàm những gì có tướng thì đều là hư vọng”, “không nắm giữ tướng thì như như bất động”. Đọc kinh như thế cũng chỉ như có người mắng quở chúng ta rất dữ, lại mắng quở một số điều oan uổng. Thế rồi chúng ta liền gạt bỏ kinh Kim Cương ra một bên mà cho rằng cảnh giới này là thực, rồi bắt đầu đau lòng ấm ức, chẳng nhớ chút gì là hễ có tướng đều là hư vọng, bắt đầu theo với tướng hư vọng mà quay chuyển; không những nắm giữ tướng mà còn dao động tâm, không những dao động tâm, lại còn làm thương tổn tâm, chẳng hiểu chút gì là “như như bất động”. Cho nên đọc kinh hằng mấy chục năm, khi gặp khảo hạch mà ứng dụng đề thì đành chịu thua. Nếu như người ta bảo, chúng ta học Phật đều là kẻ dối gạt người, không thật lòng mà học; chúng ta nghe xong liền không chịu chấp nhận; cũng như khi mới bị sát hạch, người ta không đánh mà mình đã tự thú. Quả thực chúng ta chẳng học được chút gì về việc hiển lộ những lời Đức Phật đã dạy chúng ta. Nhẫn nhục Ba la mật gì thì hãy gác một bên, nay hãy biện luận trước một chút, khóc một cái rồi hãy nói.

Có một cư sĩ rất dễ thương, nói với tôi anh đã từng ăn trái Ba la mật (tức trái mít) lần đầu tiên trong đời. Câu chuyện khiến cho tôi rất cảm khái. Anh kể: Anh đi làm việc ở trên núi, nghe người ta nói Ba la mật rất tốt, một trái một ngàn đồng, anh liền mua một trái thử xem sao. Anh lại nghe nói Ba la mật có mủ rất dính, cần phải bôi dầu. Anh không biết là phải bôi dầu vào dao, rồi dùng dao có bôi dầu mà cắt thì dao không dính mủ. Anh dùng dao cắt thẳng vào trái ba la mật, cắt tới đâu bị dính tới đó, dính cả tay, cả người rửa không sạch. Anh bèn nói: “Dính tay, dính chân tức muốn chết! Nếu không nghĩ đến đã mua quá dắt tiền thì tôi đã ném nó vô thùng rác cho khỏi mất công!”. Anh còn tưởng rằng khi ăn trái ba la mật thì nhúng dầu vào mà ăn. Kết quả là ăn phải dầu rất khó ăn.

Anh bạn cư sĩ ấy kể lại cho nghe chuyện ăn trái mít (Ba la mật), đây quả thực là giống như quá trình tu hành của chúng ta. Ý của việc bôi dầu lên dao chính là để dầu không dính dao. Chúng ta không biết dao cần phải bôi dầu tức là không biết trí tuệ cần phải không chấp trước. Kết quả là chỗ nào cũng chấp trước, quả là “dính tay, dính chân, tức muốn chết”. Ba la mật gì cũng bị bỏ đi! Thứ dầu không dính dao này là cái trí tuệ dạy chúng ta không chấp trước. Cái mà mỗi con dao đều cần hoàn toàn không phải là để cho người ta nhúng dầu vào mà ăn. Trí tuệ ở trong kinh Phật là thứ mà hàng ngày mọi nơi đều cần dùng, hoàn toàn không phải là thứ trang sức bên ngoài.

“Quí vị hãy xem! Đây là người cố làm mặt bên ngoài giỏi nhất!”.

Khảo đề mà lão Hòa Thượng đưa ra thì thiên biến vạn hóa. Ân sư của tôi kể cho tôi nghe rằng, hồi đó chùa Thừa Thiên được xây trong núi sâu, việc xây cất rất khó khăn. Mọi người đều phải tự gánh đất, khiêng gạch thậm chí làm việc đến toàn thân phải ngâm trong bùn.

Lão Hòa Thượng khuyến khích mọi người nên một mặt thì làm việc, một mặt thì niệm Phật, huấn luyện công phu niệm Phật trong sự xao động. Một hôm có nhiều vị Pháp sư, Đại Đức đến bái kiến Lão Hòa Thượng. Lão Hòa Thượng sai người đến chỗ làm việc gọi ân sư về để phiên dịch. Khi ân sư tôi vừa mới bước đến phương trượng, Lão Hòa Thượng liền nói với các Pháp sư đang ngồi đó: “Quí vị hãy xem! Trong toàn thể chùa Thừa Thiên chúng tôi, đây là người cố làm mặt bên ngoài giỏi nhất! Quí vị xem kìa, cô ta làm cho toàn thân đều dính bùn, chính là nhằm để người ta nói rằng, cô ta làm việc rất khổ nhọc!”. Mọi người nghe Lão Hòa Thượng nói như thế, hẳn không có ai là không tin. Các vị Pháp sư đang ngồi đây có người nghe xong liền nói với ân sư tôi: “Hả? Lão Hòa Thượng bảo rằng cô cố làm mặt bên ngoài, như thế là không tốt đâu!”. Ân sư tôi nghe xong liền quì xuống hướng về phía mọi người mà nói: “ Đúng thế, đệ tử cố làm mặt bên ngoài, đệ tử xin sám hối, cải lỗi”. Bấy giờ tôi nghe ân sư nói thế thì nước mắt tôi tuôn trào, trong lòng rất cảm động. Tôi tự phản tỉnh: Nếu lão Hòa Thượng nói tôi như thế, lại nói với mấy vị Pháp sư như thế, tôi nghe xong thì nhất định cho đó là thật, lại cảm thấy rất khó chịu. Nhưng ân sư tôi lại có giác tính, lúc nào cũng hiểu rõ, đấy là một cuộc khảo hạch, giống như đang thi với loại đề đúng sai, bà rất bình tĩnh, nếu rõ những gì cần phải đáp, rồi giao trình bài giải đáp của bà.

Chúng ta không biết đây là người đang khảo hạch, nên cứ theo khi tình thông tục của mình mà giao nộp một bài giải đáp tệ hại. Như thế này thì tại nơi tuyển Phật chúng ta chuẩn bị được mấy phần chứ?

Chúng ta thử nghĩ xem, nếu có người mắng trách chúng ta trước mặt mọi người rằng chúng ta làm ra vẻ bề ngoài thì nghe xong chúng ta liền tỏ vẻ không phục. Như thế chính là không bị đánh mà tự thú. Vì một khi giận dỗi là tỏ ra trong lòng chưa được quán chiếu. Người ta chỉ nói một câu mà chúng ta đã sinh phiền não, điều này chứng minh rằng công phu tu hành nội tâm của chúng ta hoàn toàn chẳng có gì, có chăng chỉ có bề mặt bên ngoài mà thôi. Mọi thứ công việc là đều nhằm giúp chúng ta cơ hôi mượn cảnh để luyện tâm. Nếu chúng ta không hiểu rõ được ý nghĩa này mà khéo lợi dụng hoàn cảnh trong công việc để hàng phục cái phiền não tham, sân, si, mạn của tự mình thì mọi công việc được làm như thế quả thực chỉ là mặt ngoài, chẳng có công phu thực tế gì.

Nếu người ta phê bình chúng ta không đúng mà chúng ta tỏ ra không vui thì điều này biểu lộ rằng động cơ khiến chúng ta làm việc còn có cái tâm mong người khác khen ngợi đang tiềm ẩn bên trong. Như thế là nội tâm chẳng có chút gì là thanh tịnh. Nếu nội tâm không thanh tịnh được thì dù có làm những công việc lớn lao bao nhiêu cũng chỉ đều có mặt ngoài mà thôi. Lời dạy của Lão Hòa Thượng chính là sự đề tỉnh rất tốt khiến cho chúng ta tự phản tỉnh, xem chúng ta có thực hiện công phu nội tâm chân thực hay không. Nếu như chân tâm tu hành, nội tâm được quán chiếu thì sẽ không bị người khác bảo mình làm mặt ngoài mà sanh phiền não. Nếu nội tâm nóng giận thì quả là chỉ có làm mặt ngoài mà thôi. Lời phê bình của người khác quả là vô cùng chính xác.

Ân sư kể rằng, vào lúc đang xây dựng chùa Thừa thiên, mọi người đều hợp sức làm việc không ngừng. Một hôm, trong lúc mọi người rất mệt mỏi vì cả ngày phải làm việc hì hục trong đất bùn, Lão Hòa Thượng bỗng đưa ra một cái hộp lớn đựng đủ các loại đinh sắt đã trộn lẫn với nhau và bảo mọi người đem hộp đinh này mà lựa riêng ra từng loại lớn nhỏ, theo kích cỡ khác nhau. Ân sư tôi kể rằng, bấy giờ bà chợt nghĩ: “Chà! Lão Hòa Thượng, sao mà Ngài lại chọn trong lúc mọi người quá mệt mỏi như thế này mà bảo người ta đi lựa đinh chứ?”. Thế nhưng Lão Hòa Thượng vẫn tỉnh bơ sắc mặt, nói: “không lẽ đến khi chết còn để cho cô chọn thời gian sao?”. Bấy giờ ân sư tôi vội quì xuống, hiểu ra được ý tứ của Lão Hòa Thượng mà đáp lại: “Đệ tử xin đi lựa đinh đây”. Sau đó bà mới cố sức, phấn chấn tinh thần, lựa đinh phân ra từng cái, theo lớn nhỏ mà xếp thành loại. Lựa đến nửa đêm thì xong, bà đến báo cáo với Lão Hòa Thượng: “Đệ tử đã phân loại đinh xong xuôi rồi”. Lão Hòa Thượng nói: “Lựa cũng là việc của cô, không lựa cũng là việc của cô!”

Chúng ta không có cách gì để chọn cho được lúc sắp chết nhằm vào lúc chúng ta thong thả. Bất kể ba mươi tuổi thì chết, hoặc tám mươi tuổi mới chết, nói chung đó là một ngày già nhất, mệt nhất trong cuộc đời. Cho nên bình thường chúng ta nên luyện tập không kể lúc đau khổ mệt nhọc nào, chúng ta đều phải chánh niệm rõ ràng.

Chúng ta đều biết, lão Hòa thượng vốn là người suốt đêm có thể ngồi ngoài trời. Ngài vốn không cần phải xây chùa miếu gì. Có thể nói Ngài xem việc xây chùa miếu là công cụ giáo dục và dùng công cụ ấy để đào luyện đệ tử.

 

                —o0o—


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter