Lão Hòa Thượng Hải Hiền 112 tuổi tự tại Vãng Sinh

Chương 29: Pháp Môn Niệm Phật

trước
tiếp

Lão Hòa thượng Hải Hiền không biết chữ, chưa từng tụng kinh, cũng chưa từng nghe người khác giảng kinh, niệm một câu Phật hiệu 92 năm. Ngài niệm Phật hầu như không nghỉ ngơi, chỉ cần khi còn thức thì niệm Phật. Công việc của Ngài là làm ruộng, hằng ngày Ngài làm ruộng, nhưng câu Phật hiệu trong tâm không gián đoạn. Niệm Phật không trở ngại công việc, công việc không trở ngại niệm Phật, đây là tấm gương tốt của người học Tịnh tông cầu sinh Tịnh độ.

Ngài nói cho chúng ta biết một sự thật: Thế giới Tây Phương Cực Lạc trên kinh điển nói, thật sự có! Ngài đã gặp A Di Đà Phật, Ngài cầu Phật đưa Ngài đến Thế giới Cực Lạc, A Di Đà Phật không tiếp dẫn Ngài đi, nói với Ngài, Ngài nên tiếp tục ở thế gian biểu Pháp. Ý nghĩa của biểu Pháp là làm một tấm gương xuất sắc, để mọi người nhìn thấy sinh khởi tín tâm, phát nguyện cầu sinh Tây Phương. Đây là phương thức Ngài phổ độ chúng sinh.

Tại sao chúng ta có thể vãng sinh? Tại sao có thể đến được Thế giới Cực  Lạc làm Phật? Bởi vì chúng ta vốn dĩ là Phật, tự tính của chúng sinh và tự tính của Phật là một không hai, chỉ là chúng ta mê rồi, không biết được sự thật này, chúng ta tùy thuận phiền não, trở thành bộ dạng như hiện nay – làm một chúng sinh khổ não trong lục đạo luân hồi. Nếu như chúng ta tùy thuận viên giáo xưng tính Như Lai, vậy thì đến Thế giới Cực Lạc làm Phật rồi.

Mười Pháp giới y chính trang nghiêm, chúng ta làm Phật, làm Bồ Tát, hay là làm người, làm súc sinh, làm ngạ quỷ, đều là chính mình quyết định. Nhân của mười pháp giới, cũng chính là chủng tử trong a lại gia thức, tất cả chúng ta đều có, không thiếu gì cả, đầy đủ viên mãn. Phật đã giới thiệu mười Pháp giới này cho chúng ta biết rõ, về việc chọn con đường nào, hy vọng chủng tử nào mọc rễ, nảy mầm, sinh trưởng, ra hoa, kết trái, tất cả là do chính mình lựa chọn, chính mình kiên trì, không phải người khác làm chủ, quyền chủ động trên tay bản thân, Phật Bồ Tát chẳng qua là làm tăng thượng duyên cho chúng ta mà thôi, cho nên nói Phật không độ chúng sinh. Chúng sinh thành Phật là tự độ mình.

Dưới mười pháp giới là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la, người, trời, đây chính là sáu cõi. Trên là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.

Ba cõi đầu trong sáu cõi là ba đường ác, ba cõi sau là ba đường thiện. Có mười hành vi lương thiện là hướng theo cõi thiện, mười thiện nghiệp có ba phương diện là thân, ngữ, ý, thân thiện nghiệp tức là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, ngữ thiện nghiệp tức là không vọng ngữ, không hai lời, không ác khẩu, không ỷ ngữ, ý thiện nghiệp tức là không tham, không sân, không si. Thiện tức là thuận theo đạo lý, cũng chính là nói, mười hành vi thiện này tất cả là hành vi thuận theo đạo lý.

Trong sáu cõi, cõi trời là thiện nhất, sinh lên cõi trời là tu thượng phẩm mười thiện, cộng thêm từ bi hỷ xả, đây là người đại thiện của thế gian, người chân thiện, có thể quên mình vì người. Tiếp theo là cõi người, tu trung phẩm mười thiện, có thể trì năm giới hoặc làm được nhân lễ nghĩa trí tín mà cổ nhân Trung Quốc nói tới, kiếp sau vẫn không mất thân người. Tu cõi A tu la là giữa thiện và ác, tu hạ phẩm mười thiện. Kỳ thật, A tu la cũng giống với trời người, cũng tu thượng phẩm thập thiện, nhưng khi họ tu thập thiện mang theo tâm ngạo mạn, tâm hiếu thắng, tâm đố kỵ và oán hận (không vừa ý họ thì họ oán hận, thậm chí còn muốn trả thù), vì vậy trong thượng phẩm mười thiện họ có ý nghĩ ác.

Đi xuống phía dưới, ngu si sinh cõi súc sinh. Ngu si là chỉ không phân rõ tà chính, không phân rõ chân vọng, người ngu si nghe kinh, đọc kinh đều ít, không có trí tuệ. Người có tâm tham nặng, tham ngũ dục lục trần, tham tài sắc danh thực thùy, sinh cõi quỷ. Nhân của sân hận là cõi địa ngục, trong sân hận nghiêm trọng nhất là kiêu mạn đố kỵ.

Đây chính là nghiệp duyên của mười pháp giới.

Thông thường mà nói, người đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, 70 – 80% đều vãng sinh trời Đao Lợi trong cõi trời, người Trung Quốc xưng thiên chủ Đao Lợi là Ngọc Hoàng Đại Đế. Trời Đao Lợi phúc báu lớn, tất cả đều hưởng thụ tự tại, trường thọ lâu dài. Một ngày trên trời Đao Lợi, là một trăm năm của nhân gian chúng ta, một năm trên trời Đao Lợi cũng là 365 ngày, thọ mạng của thiên nhân trên đó là một ngàn tuổi.

Phật nói cho chúng ta biết, cõi trời tuy tốt, nhưng chưa cứu cánh, thọ mạng  có dài hơn nữa cũng có ngày cuối cùng, thọ mạng đến rồi phải làm sao? Không thể thăng cấp lên, chỉ có trụy lạc. Cho nên chư Phật Bồ Tát đại từ đại bi, vì chúng ta giới thiệu Thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Cái Thế giới này thuần thiện, không có ác, sống ở Thế giới này toàn là Phật Bồ Tát, chúng ta vãng sinh đến Thế giới Cực Lạc thì làm a duy việt trí Bồ Tát. A duy việt trí là âm thánh, dịch ra có nghĩa là “Bất thoái chuyển”, đây là Pháp Thân Bồ Tát, Bồ Tát địa vị rất cao. Cái vị trí này quá cao rồi, phương pháp tu hành lại quá dễ dàng, phàm phu có thể trong một đời đạt được bất thoái, tất cả nhờ vào oai thần và sự gia trì của A Di Đà Phật. Cho nên cơ hội này thật  sự hiếm có, tuyệt đối không được bỏ lỡ. Vì vậy, Tổ sư Đại đức mới nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất thế, duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải”. Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trên thế gian này, chính là vì giới thiệu cho chúng ta biết Tây Phương Tịnh độ, khuyên mọi người cầu sinh Thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Pháp môn này khó tin, vãng sinh đến Thế giới Cực Lạc không phải dựa vào lực lượng của chính mình, toàn nhờ vào tha lực. Tuy rằng toàn nhờ vào tha lực, nếu như bản thân không thật tin, thật sự phát nguyện, thật sự niệm Phật, lực lượng của A Di Đà Phật không giúp được, cũng chính là nói, nếu như niệm lực bản thân chúng ta không đầy đủ, thì không thể kết thành một thể với nguyện lực của A Di Đà Phật, nguyện lực của Phật A Di Đà có lớn hơn, cũng không cách nào giúp đỡ chúng ta vãng sinh. Vì vậy Pháp môn Tịnh tông gọi là Pháp môn nhị lực. Lực lượng của bản thân chúng ta chính là ức Phật niệm Phật, khống chế lại phiền não tập khí của mình, đạt đến công phu thành phiến, sinh đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc, đây là lực lượng của A Di Đà Phật. Đây là những gì Pháp môn khác không có.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Thích Ca Mâu Ni Phật nói: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật”, đây là căn cứ vào lý luận của Pháp môn Tịnh độ. Tâm của chúng là chân tâm, chính là “thị tâm thị Phật”, chính là bổn tính bổn thiện mà người Trung Quốc nói. Bây giờ chúng ta niệm A Di Đà Phật, vãng sinh đến Thế giới Cực Lạc, là “thị tâm tác Phật”. Ta vốn dĩ là Phật, bây giờ muốn làm Phật, đâu có đạo lý nào không thành Phật! Ý nghĩa của “Phật” là giác, “thị tâm thị Phật” cũng chính là “thị tâm thị giác”. Nhưng hiện nay chúng ta là “thị tâm thị mê”, không phải giác. Mê chính là chúng sinh, giác chính là Phật; chúng sinh giác rồi, thì thành Phật.

“Tín, nguyện, trì danh” là đại đạo vãng sinh Thế giới Cực Lạc, thấy A Di Đà Phật thành Phật, “trì danh” là thành thật niệm Phật, như lão Hòa thượng Hải Hiền vậy. Nếu như chúng ta có thể kiên trì, cả đời không thoái chuyển, đời này nhất định có thể thành Phật.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter