Kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện

☸ PHẨM 8: DIÊM VƯƠNG VÀ QUYẾN THUỘC TÁN THÁN

trước
tiếp

Lúc bấy giờ, trong dãy núi Thiết Vi có vô lượng quỷ vương và Diêm Vương Thiên Tử đều đến chỗ của Phật ở trời Tam Thập Tam.

Các vị ấy là:

– Ác Độc Quỷ Vương,
– Đa Ác Quỷ Vương,
– Đại Tranh Quỷ Vương,
– Bạch Hổ Quỷ Vương,
– Huyết Hổ Quỷ Vương,
– Xích Hổ Quỷ Vương,
– Tán Ương Quỷ Vương,
– Phi Thân Quỷ Vương,
– Điện Quang Quỷ Vương,
– Lang Nha Quỷ Vương,
– Thiên Nhãn Quỷ Vương,
– Đạm Thú Quỷ Vương,
– Phụ Thạch Quỷ Vương,
– Chủ Hao Quỷ Vương,
– Chủ Họa Quỷ Vương,
– Chủ Thực Quỷ Vương,
– Chủ Tài Quỷ Vương,
– Chủ Súc Quỷ Vương,
– Chủ Cầm Quỷ Vương,
– Chủ Thú Quỷ Vương,
– Chủ Mị Quỷ Vương,
– Chủ Sản Quỷ Vương,
– Chủ Mạng Quỷ Vương,
– Chủ Tật Quỷ Vương,
– Chủ Hiểm Quỷ Vương,
– Tam Mục Quỷ Vương,
– Tứ Mục Quỷ Vương,
– Ngũ Mục Quỷ Vương,
– Kỳ-lợi-thất Vương,
– Đại Kỳ-lợi-thất Vương,
– Kỳ-lợi-xoa Vương,
– Đại Kỳ-lợi-xoa Vương,
– A-na-tra Vương,
– Đại A-na-tra Vương,
– và các đại quỷ vương khác như thế.

Mỗi vị cùng với trăm ngàn các tiểu quỷ vương cư ngụ khắp châu Thắng Kim, vị nào chức nấy và có chủ quyền tự trị riêng.

Các vị quỷ vương này và Diêm Vương Thiên Tử nương uy thần của Phật cùng uy lực của Địa Tạng Đại Bồ-tát, họ thảy đều đến trời Tam Thập Tam và đứng qua một bên.

Lúc bấy giờ Diêm Vương Thiên Tử quỳ gối phải, chắp tay, và bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Nay chúng con và các vị quỷ vương nương uy thần của Phật cùng uy lực của Địa Tạng Đại Bồ-tát mới có thể đến trời Tam Thập Tam để tham dự đại hội này. Do nhân ấy, chúng con cũng sẽ được các lợi ích lành. Con nay có một hoài nghi nhỏ mong được thưa hỏi Thế Tôn. Kính mong Thế Tôn từ bi tuyên nói.”

Phật bảo Diêm Vương Thiên Tử:

“Ông hãy cứ hỏi. Ta sẽ thuyết giảng cho ông.”

Lúc ấy Diêm Vương Thiên Tử chiêm ngưỡng và đảnh lễ Thế Tôn, ngoảnh nhìn Địa Tạng Bồ-tát, rồi bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Con quán sát Địa Tạng Bồ-tát ở trong sáu đường đã dùng trăm ngàn phương tiện cứu độ chúng sanh tội khổ, không chút từ nan mệt mỏi. Vị đại Bồ-tát này có những sự thần thông chẳng thể nghĩ bàn như thế. Nhưng vì sao các chúng sanh vừa thoát khỏi tội báo, chẳng bao lâu thì lại đọa đường ác?

Bạch Thế Tôn! Địa Tạng Bồ-tát này đã có thần lực không thể nghĩ bàn như thế. Cớ sao chúng sanh không y theo và ở chốn lành để được giải thoát vĩnh viễn? Kính mong Thế Tôn hãy thuyết giảng cho con.”

Phật bảo Diêm Vương Thiên Tử:

“Chúng sanh ở Nam Châu Thắng Kim có tâm tánh cang cường, khó điều khó phục. Suốt trăm ngàn kiếp, vị đại Bồ-tát này luôn mãi cứu vớt các chúng sanh như vậy, khiến họ sớm được giải thoát. Những người mắc tội báo đó, cho đến phải đọa đường ác kinh hoàng, Bồ-tát cũng dùng sức phương tiện mà bạt trừ căn bổn nghiệp duyên và làm cho họ tỏ ngộ các việc của đời trước. Nhưng chúng sanh ở châu Thắng Kim này đây bị tập khí ác kết chặt nặng nề, thoáng vừa ra khỏi lại quay trở vào, nên làm lao nhọc Bồ-tát phải trải qua số kiếp rất lâu mới độ thoát.

Ví như có người quên mất nhà của mình và đi lạc vào con đường hiểm. Trong con đường hiểm ấy có rất nhiều quỷ tiệp tật cùng cọp, sói, sư tử, rắn độc, và bọ cạp. Người bị lạc này ở trong hiểm đạo, chẳng mấy chốc liền gặp ngay các thứ độc đó. Giả sử khi ấy có một vị Thiện Tri Thức biết nhiều phép thuật và khéo giải trừ các thứ độc đó, bao gồm cả quỷ tiệp tật và các loài ác độc khác.

Khi hốt nhiên gặp kẻ lạc lối đang muốn tiến vào hiểm đạo, ngài vội bảo rằng:

‘Ôi trời, ông bạn! Do duyên sự gì mà vào con đường ấy? Ông có phép thuật lạ gì mà có thể chế phục được các thứ độc hại đó chăng?’

Người lạc đường này chợt nghe lời ấy thì mới biết là hiểm đạo nên liền lui lại và cầu ra khỏi con đường đó. Vị Thiện Tri Thức nắm tay dìu dắt và dẫn họ ra khỏi con đường hiểm, hầu thoát khỏi các thứ ác độc để đến nơi an lành và làm cho họ được an vui.

Rồi ngài bảo rằng:

‘Này người lạc đường! Từ nay về sau chớ đi vào con đường đó. Ai mà vào rồi thì khó mà ra khỏi và còn nguy hại đến tánh mạng nữa.’

Khi ấy người lạc đường đó sanh lòng cảm kích ân trọng.

Lúc sắp từ biệt, vị Thiện Tri Thức lại căn dặn thêm:

‘Nếu gặp người thân quen cùng những người đi đường khác, hoặc nam hay nữ, thì bảo cho họ biết rằng, con đường này có nhiều thứ độc ác, vào đó rồi sẽ mất cả tánh mạng đấy. Anh hãy làm cho họ đừng tự vào chỗ chết.’

Cũng như vậy, Địa Tạng Bồ-tát với lòng đại từ bi và luôn cứu vớt chúng sanh tội khổ, khiến cho họ sanh vào cõi trời hay nhân gian để thọ hưởng an vui vi diệu.

Một khi những người tội đó biết sự khốn khổ của nghiệp đạo, thì lúc được thoát ra, họ vĩnh viễn sẽ chẳng còn trở vào lại. Họ cũng như người lạc đường sa vào hiểm đạo. Khi gặp Thiện Tri Thức, họ liền được tiếp dẫn ra khỏi và vĩnh viễn sẽ không đi vào chỗ ấy nữa.

Khi thấy người khác, họ khuyên đừng có vào và nói rằng:

‘Tôi lúc xưa do bị mê lầm nên mới lạc vào đó. Nay đã được ra khỏi nên sẽ không bao giờ trở lại. Nếu còn giẫm bước vào thì cũng còn bị lạc ngay, và vẫn chẳng biết đó là con đường hiểm mà mình đã từng bị lạc qua, hoặc có thể phải bị mất cả tánh mạng.’

Điều này cũng giống như khi chúng sanh sa đọa đường ác. Địa Tạng Bồ-tát dùng sức phương tiện để khiến cho họ giải thoát và sanh trong cõi trời hay nhân gian, nhưng thoáng chốc họ lại đọa vào nữa. Nếu nghiệp báo kết chặt thâm trọng thì họ vĩnh viễn sẽ ở chốn địa ngục và không bao giờ được ra khỏi.”

Lúc bấy giờ Ác Độc Quỷ Vương chắp tay cung kính và thưa Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Quỷ vương chúng con ở châu Thắng Kim, số ấy đông vô lượng. Hoặc làm lợi ích người hay tổn hại người, ai nấy đều khác nhau. Do nghiệp báo nên khi du hành qua các thế giới, quyến thuộc chúng con làm ác thì nhiều mà làm thiện lại quá ít. Tuy vậy, nhưng nếu chúng con đi qua sân nhà ai hoặc thành thị xóm làng, vườn tược phòng xá, hoặc có kẻ nam người nữ nào tu hành việc lành chừng bằng cọng lông hay sợi tóc, cho đến chỉ treo một tràng phan hay một lọng che, dùng chút hương ít hoa mà cúng dường tượng Phật cùng tượng của Bồ-tát, hoặc chuyển đọc tôn Kinh, thắp hương, cúng dường một câu hay một bài kệ, thì quỷ vương chúng con sẽ lễ kính người này như chư Phật quá khứ, hiện tại, cùng vị lai. Chúng con lại sai các tiểu quỷ có uy lực lớn cùng thần thổ địa mà hộ vệ họ, khiến cho những việc ác, tai họa, ác bệnh, hoặc bệnh bất ngờ, cho đến những sự không như ý còn chẳng hề đến gần nhà và các nơi xung quanh. Hà huống là lọt vào đến cửa.”

Đức Phật ngợi khen quỷ vương rằng:

“Lành thay, lành thay! Các ông cùng với Diêm Vương có thể ủng hộ các thiện nam tín nữ như thế, thì Ta cũng sẽ sai Phạm Vương và Năng Thiên Đế hộ vệ các ông.”

Khi nói lời ấy xong, trong Pháp hội có một quỷ vương tên là Chủ Mạng, thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Do bổn nghiệp duyên mà nay con làm chủ về nhân mạng ở châu Thắng Kim. Khi sanh khi tử đều do con làm chủ. Bổn nguyện của con thì rất muốn làm lợi ích, nhưng chúng sanh không hội ý con nên khiến cho lúc sanh lúc tử đều không được an ổn.

Vì sao thế? Người ở châu Thắng Kim khi vừa mới sanh, không kể là nam hay nữ, hoặc lúc gần sanh, họ chỉ nên làm việc lành để tăng thêm lợi ích cho nhà cửa. Như vậy tự nhiên sẽ khiến cho thần thổ địa vô cùng hoan hỷ mà ủng hộ cả mẹ lẫn con đều được nhiều an vui và quyến thuộc cũng được lợi ích. Hoặc khi đã sanh rồi, thân quyến của họ cẩn thận chớ giết hại để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản phụ, cùng nhóm họp hàng quyến thuộc lại để uống rượu, ăn thịt, ca hát, và âm nhạc ầm ĩ. Bởi các việc như thế có thể sẽ khiến cho cả mẹ lẫn con chẳng được an lạc.

Vì sao thế? Bởi đương lúc sanh nở khó khăn ấy, có vô số ác quỷ cùng sơn tinh yêu quái muốn tới ăn máu tanh. Chính con đã sớm sai các thần linh của nhà cửa phải bảo hộ người mẹ và đứa con để khiến họ an vui và được lợi ích. Những người này khi thấy sự an vui thì nên cùng nhau tạo phước để báo đáp các thần thổ địa. Trái lại, nếu họ giết hại và tụ tập quyến thuộc, thì do bởi lẽ này, hễ phạm tai ương ắt phải tự lãnh thọ; người mẹ và đứa con đều sẽ tổn hại.

Lại nữa, khi những người ở châu Thắng Kim sắp mạng chung, chẳng kể là thiện hay ác, con đều không muốn cho người mạng chung đó bị lạc vào đường ác. Hà huống là người ấy tự tu căn lành và lại làm tăng thêm uy lực của con. Những người làm thiện ở châu Thắng Kim đến lúc lâm chung cũng còn có trăm ngàn quỷ thần trong đường ác, hoặc chúng biến làm cha mẹ và cho đến hàng quyến thuộc của họ, để mà dẫn dắt người chết, khiến họ sa đọa đường ác. Huống chi là người vốn đã tạo ác.

Thưa Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ ở châu Thắng Kim đến lúc lâm chung thì thần thức hôn ám mê muội. Họ không phân biệt được thiện ác, cho đến mắt và tai đều chẳng còn thấy nghe gì nữa. Hàng quyến thuộc của họ nên làm những việc cúng dường rộng lớn, chuyển đọc tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ-tát. Những duyên lành như vậy mới có thể khiến cho người chết xa lìa các đường ác, và chúng ma quỷ thần đều phải thoái lui.

Thưa Thế Tôn! Tất cả chúng sanh khi sắp mạng chung, nếu họ nghe được danh hiệu của một vị Phật, danh hiệu của một vị Bồ-tát, hoặc một câu hoặc một bài kệ trong Kinh điển Đại Thừa, con quán sát thấy hạng người ấy, chỉ trừ năm tội vô gián và các tội giết hại, còn những nghiệp ác nho nhỏ đáng phải đọa đường ác thì sẽ liền giải thoát.”

Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương:

“Ông vì lòng đại từ nên mới có thể phát đại nguyện như thế để cứu hộ chúng sanh trong lúc sanh tử. Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào đến thời điểm sanh tử, thì ông chớ quên lời nguyện đó và hãy khiến họ giải thoát, để có được niềm an lạc vĩnh viễn.”

Quỷ vương thưa với Phật rằng:

“Xin Thế Tôn chớ lo lắng! Trọn đời con sẽ niệm niệm ủng hộ chúng sanh ở châu Thắng Kim. Trong lúc sanh lúc tử, con sẽ khiến họ đều được an vui. Con chỉ mong các chúng sanh trong khi sanh khi tử đều tín thọ lời con nói, họ tất sẽ được lợi ích to lớn và không ai mà chẳng giải thoát.”

Lúc bấy giờ Phật bảo Địa Tạng Bồ-tát:

“Chủ Mạng Đại Quỷ Vương này đã từng trải qua trăm ngàn đời làm đại quỷ vương để ủng hộ chúng sanh ở trong sanh tử. Do thệ nguyện từ bi nên vị Đại Sĩ này hiện thân làm đại quỷ vương chớ không phải quỷ thật. Trải qua 170 kiếp về sau, ông ta sẽ thành Phật, hiệu là Vô Tướng Như Lai. Kiếp tên là An Lạc. Quốc độ tên là Tịnh Trụ. Thọ mạng của Đức Phật đó lâu dài đến không thể tính kể số kiếp.

Này Địa Tạng! Vị đại quỷ vương ấy có những việc chẳng thể nghĩ bàn như vậy. Hàng trời người được độ thoát cũng nhiều không thể hạn lượng.”

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter