Hương Hoa Vườn Giáo Pháp - Pháp uyển Châu Lâm

Thiên Thứ Mười Năm - Khuyên Nhủ Dẫn Dắt - Phần Năm - Nghiệp Nhân

trước
tiếp

PHÁP UYỂN CHÂU LÂM

Giảng giải: Pháp Sư Đạo Thế

Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
 

THIÊN THỨ MƯỜI NĂM

KHUYÊN NHỦ DẪN DẮT
 

PHẦN NĂM

NGHIỆP NHÂN
 

Kinh Phật Thuyết Thái Tử Loát hộ nói:

Thái Tử Loát hộ của Quốc Vương A Xà Thế bạch Đức Phật rằng:

Do nhân duyên nào Bồ Tát có diện mạo trang nghiêm?

Do nhân duyên nào không thụ thai trong bụng mẹ mà hóa sinh trên hoa sen?

Do nhân duyên nào biết được tiền kiếp?

Đức Phật bảo Thái Tử: 

Nhờ Nhẫn Nhục nên có diện mạo trang nghiêm, không dâm dục nên hóa sinh và bảy ngày sau, biết rõ được vô số kiếp trước.

Lại do nhân duyên nào có ba mươi hai tướng tốt?

Lại do nhân duyên nào có tám mươi vẻ đẹp?

Lại do nhân duyên nào khiến người chiêm ngưỡng sắc tướng của Bồ Tát không hề sinh chán nản?

Đức Phật bảo Thái Tử: 

Do Bồ Tát hoan hỷ bố thí các phẩm vật cần thiết cho Chư Phật, Bồ Tát, sư trưởng, Cha Mẹ và chúng sinh nên có ba mươi hai tướng tốt.

Do Bồ Tát có lòng Từ bi thương xót các chúng sinh thuộc loài thân thể yếu mềm khắp Mười Phương giống như con mình và muốn siêu độ tất cả, nên có được tám mươi vẻ đẹp.

Lại xem kẻ oán thù như Cha Mẹ ruột, không khác chút nào, nên được người chiêm ngưỡng không hề chán nản.

Lại do nhân duyên nào có trí tuệ hiểu thấu ý nghĩa của Kinh Điển cao siêu và thực hành phép Đà La Ni để ghi nhớ không quên?

Lại do nhân duyên nào biết được đại định Tam Muội khiến tâm ý an ổn?

Lại do nhân duyên nào khiến lời hiền thiện của Bồ Tát được mọi người hoan hỷ Thọ Trì?

Đức Phật bảo Thái Tử: 

Do Bồ Tát thường sao chép, thọ trì học hỏi đọc tụng Kinh Điển nên có trí tuệ hiểu rõ ý nghĩa cao siêu và thực hành phép Đà La Ni để ghi nhớ không quên.

Lại thường chuyên tâm Thiền Định nên chứng được phép Tam Muội yên vui. Lời nói rất thành thật nên được mọi người tin tưởng.

Lại do nhân duyên nào không sinh vào chỗ ác?

Lại do nhân duyên nào được sinh lên Cõi Trời?

Lại do nhân duyên nào không ham thích dục lạc?

Đức Phật bảo Thái Tử:

 Do Bồ Tát đời đời tin tưởng Tam Bảo, nhờ đó không sinh vào tám chỗ ác.

Do giữ giới không ngừng, nên được sinh lên Cõi Trời.

Do biết Kinh Điển nói tất cả vốn là không, nên không còn tham lam dục lạc.

Lại do nhân duyên nào thân khẩu ý của Bồ Tát đều thanh tịnh?

Lại do nhân duyên nào ma chướng không quấy phá nổi?

Lại do nhân duyên nào tà đạo không phỉ báng nổi Tam Bảo?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do Bồ Tát kính yêu Tam Bảo nên thân khẩu ý đều thanh tịnh, tinh tiến không lười biếng nên ma quỷ không quấy phá nổi, hành động đều chí thành nên tà đạo không dám phỉ báng Tam Bảo.

Lại do nhân duyên nào Bồ Tát có tiếng nói cao vang êm ái như tiếng Phạm Thiên?

Lại do nhân duyên nào Bồ Tát biết được tám thứ tiếng?

Lại do nhân duyên nào Bồ Tát biết được ý nguyện của chúng sinh để đáp ứng?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do Bồ Tát đời đời chí thành không lừa dối, nên được tiếng nói cao vang êm ái như tiếng Phạm Thiên.

Do Bồ Tát đời đời không nói lời ác dữ, nên biết được tám thứ tiếng.

Do Bồ Tát không nói hai lưỡi, không nói dối nên có thể đáp ứng ý nguyện của chúng sinh.

Lại do nhân duyên nào có thọ mạng lâu dài?

Lại do nhân duyên nào thân không tật bệnh?

Lại do nhân duyên nào gia đình hòa thuận yên vui, không chia lìa?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do không sát sinh nên có thọ mạng lâu dài. Do không cầm binh khí hại người, nên làm người không có tật bệnh.

Do hòa giải khi thấy đánh nhau, khiến được an bình, nên làm người không chịu cảnh chia biệt.

Lại do nhân duyên nào được luôn luôn giàu có?

Lại do nhân duyên nào không bị trộm cướp?

Lại do nhân duyên nào có địa vị cao sang?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do không tham lam tiền tài của người khác nên được giàu có.

Do hoan hỷ bố thí, không bủn xỉn, nên không bị trộm cướp mất mác tiền tài.

Do tâm không ganh ghét nên được địa vị cao sang.

Lại do nhân duyên nào có được Thiên Nhãn thấy suốt tất cả?

Lại do nhân duyên nào có được Thiên Nhĩ nghe suốt tất cả?

Lại do nhân duyên nào biết hết chuyện sinh tử của thế gian?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do hảo tâm thắp hương đèn cúng dường trước Chư Phật, nên được Thiên Nhãn thấy suốt. Do hoan hỷ cử hành lễ nhạc trước điện Phật, nên được Thiên Nhĩ nghe suốt. Do hâm mộ Thiền quán định tâm, nên biết được chuyện sinh tử diễn biến của thế gian.

Lại do nhân duyên nào được phi hành tự tại trong cõi Tứ Thiền?

Lại do nhân duyên nào biết được chuyện xảy ra từ vô lượng kiếp trước?

Lại do nhân duyên nào chứng được diệu quả rồi nhập Niết Bàn?

Đức Phật bảo Thái Tử:

Do hoan hỷ bố thí các loại xe ngựa thuyền bè cho Tam Bảo, nên được thần túc phi hành tự tại trong cõi Tứ Thiền. Do thường tinh tiến trì niệm phép Tam Muội của Chư Phật, hoan hỷ giáo hóa chúng sinh, nên biết được chuyện xảy ra từ vô lượng kiếp trước. Do đạt được tâm địa bất thối nên có thể đoạn trừ được gốc rễ sinh tử để chứng đạo quả rồi nhập Niết Bàn.

Tụng rằng:

Mênh mông Vũ Trụ

Ngu xuẩn lẫn lú.

Lấy khổ làm vui,

Chẳng biết tiến thủ

Chẳng tuân chính lý,

Tuyên truyền giả dối.

Gọi pháp là mê,

Gọi thật là sảng.

Thần quang chiếu diệu,

Âm vang ảnh hưởng.

Quy Y từ phụ,

Thể ngộ phước quả.

Cơ duyên hội ngộ

Do công đức trước.

Nhân Duyên Cảm Ứng trích dẫn sơ lược ba chuyện linh nghiệm:

1. Trúc Trường Thư đời Tần, Tổ Tiên gốc gác ở Tây Vực, gia thế giàu có, định cư ở Thiên Trúc. Khoảng niên hiệu Nguyên Khang đời Tần 291 đến 299, dời nhà vào Lạc Dương.

Ông thờ phụng Phật Pháp tinh thành, rất thích Tụng Kinh Quán Thế Âm. Về sau, láng giềng bị hỏa tai. Nhà ông đều cất bằng cỏ tranh, lại nằm dưới chiều gió.

Ông nghĩ thế lửa đã cận kề, nếu thu gom đồ đạc, cũng chẳng còn được bao nhiêu, nên không cho gia nhân khuân vác ra ngoài, cũng chẳng tưới nước cứu chữa, chỉ chuyên tâm Tụng Kinh cầu nguyện. Một lát, lửa cháy rụi nhà láng giềng, chỉ cách nhà ông một hàng rào. Tự nhiên gió dừng, lửa chỉ liếm qua mái nhà ông rất tắt. Mọi người đều cho là chuyện linh dị.

Trong làng có đám thiếu niên ngỗ nghịch cùng phỉ báng rằng: Chẳng qua nhờ gió đổi chiều, có gì linh thiêng. Chờ đêm nào khô hạn, thử đốt nhà ông ta, nếu không cháy mới tin được.

Ít lâu, Trời hạn hán, gió nóng thổi mạnh. Đám thiếu niên ấy hùa nhau liệng đuốc lên mái nhà. Liệng đến ba lần, đuốc đều tất cả. Đám thiếu niên ấy thất kinh, đều bỏ chạy.

Sáng mai, đám thiếu niên ấy dắt nhau đến nhà ông cúi đầu xin tạ tội.

Ông từ tốn đáp rằng: Ta chẳng có phép thần gì, chẳng qua nhờ Tụng Kinh Quán Thế Âm nên được che chở mà thôi. Các cậu nên sửa mình, Quy Y tin tưởng Phật Pháp. Từ đó, trong xóm làng đều tin tưởng vào thần uy linh dị của đức Quán Thế Âm.

2. Hình Hoài Minh đời Tống, vốn người Hà Gian, làm tham quân cho đại tướng nước Tống. Có lần theo Châu Hoàn, thái thú Nam Quận, lên đánh dẹp mạn Bắc, sa phải vòng vây, bị thua trận. Lén tìm chỗ sơ hở trốn thoát được. Ngày núp đêm đi, được Ba hôm, vẫn còn sợ bị giặc đuổi theo bắt lại, liền sai người đi trước xem động tịnh.

Người ấy đi đã mấy ngày vẫn chưa thấy về báo lại tình hình. Đêm ấy, Trời chuyển mưa tối tăm mịt mù, gần sáng thì người ấy chạy về, kinh hãi nói rằng: Nhìn xa xa thấy có ánh lửa thật sáng nên cố chạy lại, dè đâu vừa đến nơi thì Trời lại tối đen. Mọi người đều lấy làm lạ. Trước đây, ông đã biết thờ Phật, khi hành quân, luôn đội Kinh Quán Thế Âm trên đầu và đọc tụng không ngớt. Đêm ấy, ông cũng đang đọc thầm, bèn ngờ rằng nhờ thần lực của Kinh mới được như thế.

Do đó, ông càng liên tục cầu nguyện nên được xá tội.

Năm Nguyên Gia thứ 17 – 440, ông đang ở trong nhà tại Kinh Thành, bỗng có vị Sa Môn đến bảo rằng: Bần đạo nhận thấy trong xóm này, nhất là nhà Ngài, đều có mùi máu huyết đáng ghê, nên dời nhà đi chỗ khác. Nói xong, bỏ đi ngay. Ông vội bước theo thấy Sa Môn vừa ra khỏi cổng, liền biến mất. Lòng ông đâm ra bực dọc vô cùng. Hai tuần sau, người hàng xóm Trương Cảnh Tú đã thương cha ruột và giết chết cha vợ.

Ông cho rằng đã ứng vào điềm máu huyết, mọi chuyện chắc đã yên. Bấy giờ, Lưu Kính Văn đều ở cạnh nhà ông trong xóm. Năm ấy, vì liên lụy vào bè đảng của Lưu Trạm, nên tất cả đều bị kết tội tru di.

3. Vương Cầu đời Tống, tự là Thúc Đạt, vốn người Thái Nguyên, làm thái thú tại Phù Thành. Năm Nguyên Gia thứ chín, vì để mất quận, bị kết tội giam vào ngục, phải mang gông cùm bằng sắt rất kiên cố nặng nề. Từ trước, ông đã giữ đạo tinh chuyên, đến khi bị tội, càng thêm dốc chí.

Hơn trăm tù nhân trong ngục đều đói khát. Đến bữa ăn, ông hay nhịn bớt để bố thí. Ngày ngày chay kiêng, thành khẩn niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Một đêm, nằm mơ được lên tòa cao, thấy vị Sa Môn trao cho quyển Kinh tên là Quang Minh An Hành Phẩm có danh hiệu các vị Bồ Tát.

Ông mở ra đọc, nhưng quên mất danh hiệu vị Bồ Tát thứ nhất. Vị thứ nhì là Quán Thế Âm, vị thứ ba là Đại Thế Chí.

Ông lại thấy một vị Sa Môn Xa Luân nói rằng: Đây là Xa Luân trong năm đường. Khi tỉnh dậy, gông cùm đều được mở ra. Ông biết nhờ có thần lực, nên càng thêm tin tưởng và tự đóng lại gông cùm như cũ. Ba hôm sau, ông được tha tội. Ba chuyện trên đây rút từ Minh Tường Ký.

***


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter