Hương Hoa Vườn Giáo Pháp - Pháp uyển Châu Lâm

Thiên Thứ Mười Bảy - Kiến Giải - Phần Hai - Dẫn Chứng A

trước
tiếp

PHÁP UYỂN CHÂU LÂM

Giảng giải: Pháp Sư Đạo Thế

Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
 

THIÊN THỨ MƯỜI BẢY

KIẾN GIẢI

PHẦN HAI

DẪN CHỨNG
A
 

Như Luận Phân Biệt Công Đức nói: Đức Phật sở dĩ bảo các đệ tử đều đáng đệ nhất đứng đầu, vì trong giáo pháp để lại ở tương lai, tứ chúng Xuất Gia, kiến giải bất đồng, cùng nhau tranh luận, cho mình là hơn, kẻ khác là kém. Những người này thật nhiều vô số. Dự phòng như thế, nên Đức Phật mở lối cho họ tự lực tự cường, cố gắng tu tập.

Như trong ánh sáng thì Mặt Trời đệ nhất, trong tinh tú thì Mặt Trăng đệ nhất, trong sông ngòi thì biển cả đệ nhất, trong Cõi Trời Lục Thiên thì Ma Vương Ba Tuần đệ nhất, trong mười tám Trời ở Sắc Giới thì Trời Tịnh Cư đệ nhất, trong chín mươi sáu hạng thì Tăng Già đệ nhất, trong chín mươi sáu đạo thì đạo Phật đệ nhất.

Như trong năm trăm đệ tử thuộc hàng Thanh Văn thì thần thông và kiến giải đều khác biệt, không thể kể hết. Sau đây chỉ liệt kê một vài chục vị, vô số vị còn lại có chép đủ ở các sách khác.

1. Luận nói: Như Tỳ Kheo Câu Lân đến thọ pháp thiện lai trước tiên, khi Đức Phật mới bắt đầu giáo hóa, nên gọi là đệ nhất. Tỳ Kheo Kiều Phạm Bát Đề khôn ngoan, biết giữ mình khỏi mọi chê cười, bằng cách lên ẩn thân trên Trời, nên gọi là đệ nhất.

Thế nên Luận Công Đức nói Tỳ Kheo Ngưu cước có hai lý do không thể ở dưới thế gian:

Tỳ Kheo này có móng chân như móng bò và ăn no xong, ói ra nhai lại. Nếu bọn ngoại đạo trông thấy, sẽ sinh lòng phỉ báng, bảo các Sa Môn ăn uống vô độ, nên Đức Phật sai lên Trời, ngồi Tọa Thiền trên giảng đường thiện pháp. Tỳ Kheo Thiện Giác từng làm sứ giả của Chư Tăng lên đó gặp Tỳ Kheo này.

Khi Đức Phật đã nhập Niết Bàn, Tôn Giả Ca Diếp đánh chùy tập họp Chư Tăng, sai A Na Luật xem khắp thế gian có ai không đến. A Na Luật thấy tất cả đều hiện diện, chỉ còn Tỳ Kheo Kiều phạm đang ở trên Trời. Ca Diếp bèn phái Thiện Giác lên Triệu.

Thiện Giác đến Trời Tam Thập Tam, gặp Kiều phạm đang nhập định tận diệt giữa giảng đường thiện pháp, liền dùng Thiền chỉ lay dậy: Đức Thế Tôn nhập diệt đã mười bốn hôm, Ca Diếp họp chúng, sai ta lên đây truyền lệnh mau xuống thế gian.

Kiều phạm đáp: Thế gian đã trống vắng, trở về làm gì?

Ta cũng sắp sữa nhập diệt. Nói xong, lấy y bát nhờ Thiện Giác đem về trao lại cho Chư Tăng rồi nhập diệt. Do nhân duyên khôn khéo giữ mình, an tọa trên Trời, nên Tỳ Kheo này được gọi là đệ nhất.

2. Luận nói: Ưu Liên Tỳ Ca Diếp sở dĩ gọi là đệ nhất, vì từ tiền kiếp đến nay, có ba anh em thường có hàng nghìn đệ tử theo hầu, lại gặp Đức Phật độ giúp, cùng chứng được quả A La Hán, được cúng dường đầy đủ bốn thứ. Nhờ thế, phấn chấn hộ trì Thánh Chúng, nên được gọi là đệ nhất về cúng dường.

3. Luận nói: Xá Lợi Phất sở dĩ gọi là đệ nhất về trí tuệ, vì Đức Thế Tôn muốn biết trí tuệ của Thân tử Xá Lợi Phất nhiều ít thế nào, bèn lấy núi Chúa Tu Di làm nghiên, lấy nước bốn biển lớn làm mực, lấy tre gỗ trong bốn Thế Giới làm bút và lấy tất cả chúng sinh trong bốn Thế Giới làm để diễn tả trí tuệ của Thân tử nhưng không thể nào tả hết.

Huống chi những kẻ chỉ có năm phép thần thông làm sao có thể ước lượng nổi?

Do đó mới gọi Xá Lợi Phất đứng đầu về trí tuệ.

4. Luận nói: Đại Mục Kiền Liên sở dĩ gọi là đệ nhất về thần thông, vì khi Đức Phật bảo là tam tai nổi lên, chúng sinh bị đói khổ, Đại Mục Kiền Liên bèn muốn lật mặt đất lên để lấy chất dinh dưỡng để nuôi sống chúng sinh. Đức Phật ngăn lại không cho, sợ tổn thương tín mạng của chúng sinh.

Đức Phật ngăn lại không cho, sợ tổn thương tính mạng của chúng sinh. Đại Mục Kiền Liên liền muốn đưa một tay giữ chúng sinh, một tay lật đất, Đức Phật cũng không chấp thuận. Do đó mới biết Đại Mục Kiền Liên đệ nhất về thần thông.

Kinh Mật Tích Cương Lực Sĩ nói: Thế Giới Quang Minh Phan ở phương Tây có Đức Phật Quang Minh Vương Minh đang Thuyết Pháp, Mục Liên vâng mệnh Đức Thế Tôn đến đó để ước độ của Phật âm thanh. Đức Phật ấy cao bốn mươi dặm, các Bồ Tát cao hai mươi dặm, bát của các Bồ Tát ấy cao một dặm. Mục Liên đi trên miệng bát.

Các Bồ Tát ấy bạch Đức Phật Quang Minh Vương: Ủa, thưa Đức Phật, sinh vật nhỏ bé này từ đâu đến, mặc áo Sa Môn và đi trên miệng bát?

Đức Phật ấy đáp: Các đệ tử thân yêu. Đừng khinh rẻ Hiền Giả ấy.

Hiền giả trẻ tuổi ấy tên Đại Mục Liên, là để tử đệ nhất về thần thông trong hàng Thanh Văn của Đức Phật Thích Ca Văn đây.

Rồi Đức Phật Quang Minh Vương bảo Mục Liên: Các Bồ Tát và Thanh Văn của Thế Giới ta thấy Hiền Giả nhỏ bé, sinh lòng khinh rẻ. Vậy Hiền Giả hãy hiển hiện thần thông, nương nhờ uy đức của Đức Phật Thích Ca Văn. Mục Liên vâng lời, cúi đầu hành lễ dưới chân Đức Phật ấy, đi vòng quanh bảy lượt rồi phóng mình lên giữa không trung, biểu diễn thần uy, xong xuôi, trở về đứng trước Đức Phật ấy.

Các Bồ Tát đều khen ngợi lạ lùng chưa từng thấy.

Đức Phật ấy bảo: Hiền giả muốn thử âm hưởng của Đức Phật Thích Ca văn nên mới đến đây. Không cần phải thử âm hưởng của Như Lai, vì âm hưởng ấy thật vô hạn, bất kể xa gần, đều diệu vợi vô lượng. Không thể lấy gì sánh ví nổi.

Đức Phật ấy bảo tiếp: Thần lực của Hiền Giả không thể giúp cho đến đây được, chính là nhờ vào uy đức của Đức Phật Thích Ca Văn. Nên đứng đây lễ bái Đức Phật Thích Ca Văn, tự nhiên sẽ về được bên ấy. Nếu Hiền Giả chỉ vận dụng thần lực của chính mình, suốt một kiếp chưa trở về được bên ấy.

Mục Liên hạ chân phải xuống sát đất, hướng về phương Đông đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Văn rồi chắp tay trở về. Chỉ trong khoảnh khắc co duỗi cánh tay, đã được về đến. Do đó mới biết Mục Liên đệ nhất về thần thông.

5. Luận nói: A Na Luật sở dĩ gọi là đệ nhất về Thiên Nhãn, vì khi Đức Phật đang Thuyết Pháp giữa đại hội, A Na Luật ngủ ngồi.

Đức Phật trông thấy, bảo: Nay Như Lai Thuyết Pháp, tại sao ông ngủ?

Này, khi ngủ, tâm ý đều đóng lại, khác gì đã chết?

A Na Luật hổ thẹn, cố gắng cảnh tỉnh, không dám ngủ, lâu quá thành mù. Mọi chúng sinh đều cần sáu loại thức ăn.

Mắt cần hai loại: Một là sắc tướng, hai là ngủ nghỉ.  Ngũ tình cũng cần đến hai loại thức ăn. Khi được ăn, lục căn mới được bảo toàn. Mắt không được ăn nên bị mù lòa. Đức Phật sai kỳ vực chữa trị.

Ông này thưa: Vì mất ngủ quá lâu nên không chữa được. Nhục Nhãn đã hỏng, không thể nhìn thấy.

Một dạo A Na Luật mày mò vá áo, chỉ hết phải xâu lại.

Không biết nhờ ai, bèn gọi khắp hai bên: Ai muốn cầu phúc, xin hãy xâu kim giúp cho.

Bỗng nhiên Đức Phật bước đến trước mặt, cầm lấy kim: Ta sẽ xâu dùm.

A Na Luật hỏi: Ai đấy?

Ta là Phật đây.

A Na Luật hỏi: Đức Thế Tôn đã đầy đủ phúc, sao còn cầu phúc?

Đức Phật đáp: Liệu phúc có thể chám nhàm chăng?

A Na Luật lập tức suy nghĩ, Đức Phật còn cầu phúc, huống gì kẻ phàm phu?

Trong tâm cảm kích, vội vàng chạy đến chiêm ngưỡng Đức Phật.

Do quá thành tâm, chứng được phép Thiên Nhãn: Triền miên suy đi nghĩ lại, chứng thêm quả A La Hán.

Khi chứng quả này, thường có ba loại nhãn:

1. Nhục Nhãn.

2. Thiên Nhãn.

3. Tuệ Nhãn.

A Na Luật dùng tam nhãn quan sát, sợ Nhục Nhãn quấy nhiễu Thiên Nhãn tranh giành công năng tinh vi và thô lớn, gây rối quan sát, nên chỉ dùng Thiên Nhãn quan sát Đại Thiên Thế Giới, lớn nhỏ đều thấy rõ ràng. Do đó mới bảo A Na Luật đệ nhất về Thiên Nhãn.

6. Luận nói: Ca chiên diên sở dĩ gọi là đệ nhất về phân tích nghĩa lý, vì Tỳ Kheo này muốn biên tập bộ pháp tạng, trong lòng suy nghĩ, nếu để người hỏi han náo loạn, khó chuyên tâm tư duy, nên ẩn mình dưới đất suốt bảy ngày. Khi soạn xong liền đem trình Đức Phật.

Đức Phật ngợi khen: Lành thay!

Và chấp thuận trở thành pháp tạng, có ý nghĩa vi diệu, hàng phục được ngoại đạo. Do đó Tỳ Kheo này được gọi là đệ nhất về nghĩa lý. Lại nữa, Đức Phật còn ngợi khen là Bậc Hiền Giả đệ nhất về phân tích và giải thích ý nghĩa.

7. Luận nói: Bà Câu La sở dĩ gọi là đệ nhất về tuổi thọ, vì từ tiền kiếp xa xưa đã cúng dường sáu vạn Đức Phật thường phát từ tâm khắp các Quốc Độ của Chư Phật ấy. Đối với các loài nhuyễn thể hữu hình, càng tỏ lòng thương xót, không hề có ý giết hại.

Đức Phật bảo A Nan: Như Lai hiện nay có thọ mạng tám mươi tuổi vì muốn tùy thuận thích hợp với thế gian, không để khác biệt. Bà Câu La nhờ phước đức từ tiền kiếp nên thọ mạng Tăng gấp đôi, được một trăm sáu mươi tuổi.

Bởi vào thời quá khứ, khi Đức Phật Tỳ Bà Thi ra đời có vị Trưởng Giả tu hành tinh khiết, bản tính hiền thiện khiêm cung, phát tâm cúng dường Đức Phật ấy và Chư Tăng đầy đủ bốn thứ suốt bốn mươi chín ngày. Một Tỳ Kheo đến xin thuốc.

Trưởng Giả hỏi: Đau bệnh gì?

Đáp: Đau đâu.

Trưởng Giả nói: Bệnh này do trên cách mô ứ nước nên phát ra đau đầu. Nói xong cúng dường một quả Ha Lê Lặc. Nhờ uống quả ấy, Tỳ Kheo hết bệnh. Do phước báo này suốt chín mươi mốt kiếp, Trưởng Giả ấy không hề mắc bệnh.

A Nan hỏi Bà Câu La: Tại sao ông không Thuyết Pháp?

Phải chăng vì không thông hiểu phép tứ biện nên không dám Thuyết Pháp?

Bà Câu La đáp: Chẳng phải ta không đủ sức thông hiểu phép ấy. Chỉ vì ta vốn thích tịch lặng, không chịu cảnh ồn ào, nên không Thuyết Pháp mà thôi. Do đó, Bà Câu La đệ nhất về thọ mạng và tịch lặng.

8. Luận nói: Ưu Ba Li sở dĩ gọi là đệ nhất về giữ giới, vì khi năm trăm đệ tử thân thích Xuất Gia, vị cắt tóc lẹ làng đưa tay, không mạnh không yếu, tự nhiên tóc đều rụng sạch.

Đức Phật bảo Ưu Ba Li: Hãy đến đây. Ưu Ba Li lập tức trở thành Sa Môn. Đức Phật truyền giới xong, liền trở thành A La Hán.

Sau đó, Đức Phật mới truyền giới cho năm trăm đệ tử thân thích. Ưu Ba Li được làm Thượng Tọa.

Các đệ tử thân thích nói: Người này vốn là nô bộc trong nhà, làm sao đảnh lễ được?

Đức Phật bảo: Đừng nghĩ thế, đạo không phân biệt sang hèn ai đắc pháp trước là anh. Các đệ tử thân thích miễn cưỡng gật đầu, ép mình hành lễ. Đất Trời bỗng nhiên chấn động dữ dội.

Hay thay, hay thay.

Hôm nay các đệ tử thân thích đã chế ngự được thói cao ngạo, là điều rất khó, khiến đất Trời phải chấn động. Bấy giờ, cũng có chín vạn chín nghìn dân chúng xin Xuất Gia vào đạo. Từ ngày thọ giới, Ưu Ba Li không hề phạm một tội nhỏ, nên được gọi là đệ nhất về giữ giới.

Lại nữa, phía bắc Tinh Xá kỳ hoàn có vị Tỳ Kheo bị bệnh suốt sáu năm không bớt,Ưu Ba Li đến thăm, hỏi:

Ông đau bệnh gì?

Có cần gì không?

Tỳ Kheo ấy đáp: Ta cần một thứ trái với Giới Luật, nên không thể nói ra.

Cứ nói, đừng ngại.

Tỳ Kheo ấy thổ lộ: Ta nhớ rượu quá, chỉ cần năm thăng là hết bệnh.

Đợi một lát, ta đi hỏi Đức Phật giúp cho Ưu Ba Li quay về, bạch cùng Đức Phật: Có Tỳ Kheo mắc bệnh, cần rượu làm thuốc.

Nên cho uống chăng?

Đức Phật dạy: Giới Luật của ta đặt ra cốt để trừ bỏ bệnh tật khổ đau. Ưu Ba Li lập tức quay lại tìm rượu đưa cho Tỳ Kheo ấy uống xong, liền hết bệnh. Lại Thuyết Pháp cho nghe, Tỳ Kheo ấy chứng được quả A La Hán.

Đức Phật khen ngợi Ưu Ba Li: Ông hỏi chuyện ấy, khiến Tỳ Kheo mắc bệnh được lành, lại còn đắc đạo. Nếu không được độ, Tỳ Kheo ấy sau này sẽ rơi vào ba đường ác, không thể nào ra.

Thế nên chế ra Giới Luật cho các Tỳ Kheo mai sau, phải biết cân nhắc nặng nhẹ, mới mong khỏi mọi tai ách hiểm nghèo. Ông thực sự biết giữ gìn Giới Luật. Ta giao phó Giới Luật cho ông, đừng để thất thoát. Đừng đem nói hết cho các Sa Di mới vào đạo. Do đó, Ưu Ba Li được gọi là đệ nhất về giữ giới.

9. Luận nói: Nan Đà sở dĩ gọi là đệ nhất về trang nghiêm, vì các Tỳ Kheo khác đều có tướng tốt không bằng. Như Xá Lợi Phất có bảy tướng tốt, Mục Liên có năm tướng tốt, A Nan có hai mươi tướng tốt, chỉ duy Nan Đà có ba mươitướng tốt. Thân Nan Đà ánh màu vàng, thân A Nan ánh màu bạc.

Đắp y sáng chói, mang giày dép bằng tỏ vàng, cầm bát bằng lưu ly xanh, đi vào thành khất thực mọi người trông thấy Nan Đà đều sinh lòng vui thích.

Ngoài Đức Phật các đệ tử khác không ai sánh kịp Nan Đà, nên được gọi là đệ nhất về trang nghiêm. Nàng nại nữ xin phép Đức Phật được gặp Nan Đà ngoài Tinh Xá. Quá đỗi yêu mến, Nại nữ hành lễ dưới chân, lấy tay vuốt ve Nan Đà.

Tuy nhìn dung mạo đẹp đẽ nhưng tâm Nan Đà lặng yên, không chút xôn xao. Tay chân nam nữ đụng chạm, Nan Đà không chút bất tịnh. Nại nữ không biết điều ấy, cho rằng Nan Đà còn lòng dục.

Đức Phật hiểu ý, bảo Nại nữ: Đừng nghi ngờ.

Su khi hết kiếp bảy ngày Nan Đà sẽ chứng quả A La Hán. Do đó, có thể nói rằng Đức Phật biết rõ tâm Nan Đà thanh tịnh bất biến, cho nên được gọi là đệ nhất về trang nghiêm.

10. Luận nói: Tỳ Kheo Bà đà sở dĩ gọi là đệ nhất về giải tỏa nghi trệ của người khác, vì Chư Phật ba đời đều đem tám vạn bốn nghìn Pháp Môn ra giáo hóa. chúng sinh đắc đạo, không nhất thiết phải thực hành hết các Pháp Môn. Cần tùy thuận nhân duyên ngộ đạo, lấy đó làm tôn chỉ tu hành.

Bởi vì chúng sinh có căn cơ không giống, mang bệnh nặng nhẹ khác nhau, tích tập cấu uếu dày mỏng sai biệt, nên Chư Phật mới đặt ra số lượng Pháp Môn như thế. Có khi một loại thuốc trị được nhiều bệnh. Có khi nhiều bệnh dùng chung một loại thuốc.

Giống như Lục Độ thống lãnh tất cả, chuyên tu một phép, các phép khác đều phụ giúp theo. Một phép không chuyên tu, các phép đều phế bỏ, tùy bệnh phát ra, dùng thuốc thích hợp. Nếu tâm thường nổi lên, lấy tâm vô thường chữa trị. Nếu tâm có nổi lên, lấy tâm không chữa trị.

Khi tâm vô thường làm chủ, vạn pháp đều trở nên vô thường, giống như phép bố thí tạo nên tám vạn công đức, tám vạn công đức đều tạo thành từ phép bố thí. Cũng giống như trong bát âm của Như Lai thì nhất âm làm chủ tất cả bát hưởng.

Nhất hưởng làm chủ bách giáo. Nhất giáo làm chủ bách nghĩa. Mỗi một nghĩa đều làm chủ, suy rộng đến hàng trăm vạn ức nghĩa. Nhất âm báo vạn ức, biến hóa vi diệu đến thế. Nói đại khái, các Pháp Môn cũng đều như thế. Tỳ Kheo Bà đà chuyên nói đại lược, nên được gọi là đệ nhất về giải tỏa nghi trệ.

11. Luận nói: Thiên Tu Bồ Đề sở dĩ gọi là đệ nhất về mặc áo đẹp, vì trong hàng năm trăm đệ tử thân thích có hai vị tên Tu Bồ Đề: Một vị thuộc dòng dõi hoàng tộc và một vị thuộc dòng dõi Trưởng Giả. Vị tên Thiên Tu Bồ Đề này thuộc dòng dõi hoàng tộc. Gọi là Thiên vì suốt năm trăm kiếp, thường sinh lên Cõi Trời làm Chư Thiên, đứng vào hàng Thanh Văn, sau hạ sinh xuống dòng dõi Vương gia, hưởng phước đầy đủ, không hề thiếu thốn.

Khi Đức Phật trở về nước, dạy phải Xuất Gia, vị này ép mình dưỡng chí, cơm hẩm áo thô. Lấy cỏ làm nệm, lấy phân làm thuốc. Nghe Đức Phật Giáo hóa nghiêm minh quá, thối chí muốn bỏ về nhà. Nhân khi Đức Phật nhận lời mời của Quốc Vương Ba Tư Nặc, vị này đến từ biệt xin về.

A Nan bảo: Ông hãy ở lại một đêm.

Thiên tu Bồ Đề đáp: Tịnh xá của Sa Môn làm sao ở được?

Hãy để tôi ra ngoài nghỉ tạm, rồi mai về nhà.

A Nan bảo: Cứ ở lại đây, ta sẽ thu xếp chỗ nghỉ đàng hoàng.

A Nan vào cung lấy đủ các thứ tọa cụ, phướn treo, bông hoa, dầu thơm bày biện tươm tất. Thiên Tu Bồ Đề vào nghỉ ngơi rất vừa lòng. Tâm thần ổn định, tư duy về tứ đế. Đến khuya, chứng được quả A La Hán.

A Nan vào bạch Đức Phật: Thiên tu Bồ Đề đã chứng xong quả A La Hán, đang bay bổng giữa Hư Không.

Đức Phật bảo:

Này, áo có hai thứ: Có thể gần gũi và không thể gần gũi. Nếu mặc áo đẹp mà Tăng trưởng đạo tâm thì áo ấy có thể gần gũi. Nếu mặc áo ấy mà tổn thất đạo tâm thì áo ấy không thể gần gũi.

Do đó, A Nan. Nếu mặc áo đẹp mà đắc đạo hay mặc áo Tăng rách nát mà đắc đạo, chỗ đắc đạo chính là ở bản tâm chứ không câu chấp ở áo. Vì thế, có thể nói rằng Thiên tu Bồ Đề đệ nhất về mặc áo đẹp.

12. Luận nói: La Vân sở dĩ gọi là đệ nhất về giữ giới không hư hỏng, vì có người từng bảo La Vân thích nói dối và ham sân giận. Đức Phật từ bỏ ngôi báu Xuất Gia đi khất thực khắp nơi, La Vân cho là điều đáng xấu hổ, lấy làm bực tức nên sinh ra nói dối.

Như có người hỏi Đức Phật hiện ở đâu. Nếu Đức Phật đang ở Kỳ Viên, La Vân trả lời đang ờ Trú Ám viên. Nếu Đức Phật đang ở Trú Ám Viên, La Vân lại trả lời đang ở kỳ Viên.

La Vân trả lời ngược lại với người đến hỏi.

A Nan bạch cùng Đức Phật: La Vân nói dối.

Đức Phật cho gọi đến hỏi: Người có nói dối không?

Thưa có!

Đức Phật bảo Ta sở dĩ bỏ ngôi báu Xuất Gia vì biết tất cả đều vô thường không bền vững.

Ngay cả ngôi vị Đế Thích, Phạm Vương cũng không bền vững, huống gì ngôi Vua ở thế gian để ỷ y?

Trước sau, ta đã từ bỏ không màng đến.

Tại sao ngươi lại đem lòng hờn trách ta?

Nói xong, Đức Phật bảo: Ngươi hãy múc nước đem lại đây. La Vân múc nước đầy bát mang lại.

Đức Phật cầm bát bảo: Ngươi thấy nước đầy chăng?

Thưa, thấy rồi.

Đức Phật bảo: Nước này thật đầy, không vơi một chút giống người giữ giới viên mãn không sơ suất.

Đức Phật đổ bớt một nửa, bảo: Ngươi thấy nước vơi chăng?

Thưa, thấy rồi.

Đức Phật bảo: Nước này vơi mất một nửa, giống người giữ giới không đầy đủ.

Đức Phật đổ hết nước, đưa bát cho La Vân xem rồi bảo: Ngươi thấy bát hết nước chăng?

Thưa đã thấy.

Đức Phật bảo: Phạm hết mọi giới cũng giống như bát hết nước.

Đức Phật úp bát xuống đất, bảo: Ngươi thấy bát này chăng?

Thưa, đã thấy.

Đức Phật bảo: Phạm hết mọi giới, sẽ bị đọa xuống Địa Ngục, giống như bát úp ngược xuống đất. Từ khi được Đức Phật Giáo huấn, La Vân không hề phạm một giới, dù nhỏ như tơ hào, nên được gọi là đệ nhất về giữ giới.

La Vân còn đệ nhất về hạnh Nhẫn Nhục. Có lần theo Xá Lợi Phất vào thành Xá Vệ khất thực, một kẻ Bà La Môn thấy La Vân đi sau, bỗng nổi ác tâm, đánh La Vân, vỡ đầu chảy máu đầy mặt.

La Vân tức giận, nuôi ý kiếm cách trả thù.

Xá Lợi Phất biết được, đưa tay chùi sạch máu, bảo: Nên nhớ ngày xưa, khi Phụ Vương ngươi còn làm Vua, có người đến xin mắt, bèn móc mắt ra cho. Thậm chí, chặt tay chân cho người cũng không chút hối tiếc. Khi làm voi, rút ngà đem cho cũng không cảm thấy khổ sở.

Cớ sao ngươi nay lại sinh ác ý?

La Vân nghe nói, hết sức trách mình đã nổi sân giận với kẻ Bà La Môn kia, lập tức nín thinh như đất, không còn máy động tơ hào hại tâm. Kẻ Bà La Môn đánh Lavân kia bị đọa xuống Địa Ngục Vô Gián. Do đó, La Vân đệ nhất về giữ giới và Nhẫn Nhục.

13. Luận nói: Tỳ Kheo Bàn đà tuy ngu độn nhưng sở dĩ gọi là đệ nhất về biến hình vì được Đức Phật dạy tụng hai tiếng quét chỗi. Hể tụng tiếng chỗi thì quên tiếng quét, tụng tiếng quét lại quên tiếng chỗi. Suốt sáu năm ròng Tỳ Kheo chuyên tâm tụng hai tiếng ấy.

Chợt tỏ ngộ, liền suy nghĩ: Chổi là chỗi, quét là trừ bỏ, chỗi ví với bát chánh đạo, bụi dơ ví với tam độc. Lấy bát chánh đạo trừ bụi dơ tam độc.

Ý nghĩa của quét chỗi, phải chăng là như thế?

Trầm tư hoài chân lý ấy, tâm bổng mở tung, chứng được quả A La Hán.

Có kẻ Bà La Môn còn gọi là phạm chí, Thế điển,vì đọc rộng, hiểu sâu mọi sách vở sấm truyền, thiên văn địa lý nên có tên ấy tự cho mình đức cao mới Bàn đà nói chuyện, bảo:

Dám cùng ta thảo luận chăng?

Bàn đà bực mình đáp: Ta còn đàm luận nổi với tổ phụ Phạm Thiên của người, huống gì với kẻ đui mù không mắt như ngươi?

Bà La Môn nương theo, hỏi lại: Đui mù và không mắt khác nhau thế nào?

Bàn đà lặng thinh không trả lời được, bèn vận dụng thần thông, phóng mình lên giữa Hư Không cao bốn trượng chín, ngồi kết già phu tọa. Bà La Môn ngẩng nhìn, trong lòng nảy sinh tôn kính.

Bấy giờ, Xá Lợi Phất biết hết sự tình, thấy cần hiện ra trả lời giúp, nếu không, sẽ không độ được Bà La Môn ấy, bèn hóa thành Bàn đà và làm phép che giấu Bàn đà, rồi hỏi rằng:

Nhà ngươi là Trời hay là người?

Là người Có phải người nam chăng?

Đúng thế.

Xá Lợi Phất lại bảo: Người là danh từ chung. Người nam là căn cứ theo giới tính.

Sao không khác nhau?

Hồi nãy nói đui mù nghĩa là không có mắt trí tuệ để trừ bỏ phiền não tối tăm. Bà La Môn ấy lập tức giải tỏa mê mờ, chứng được quả pháp nhãn tịnh. Do đó, Bàn đà được gọi là đệ nhất về biến hình.

Như Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: Bấy giờ, vào ngày rằm, Đức Thế Tôn giảng thuyết giới luật, các Tỳ Kheo Tăng và năm trăm Tỳ Kheo thân thích, lén rời Kỳ Hoàn lên hồ A Nậu Đạt. Long Vương bay xuống bên Đức Thế Tôn, cúi đầu hành lễ xong, ngồi xuống một bên. đại chúng vắng lặng, Xá Lợi Phất cũng không thấy ngồi.

***


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter