Hương Hoa Vườn Giáo Pháp - Pháp uyển Châu Lâm

Thiên Thứ Bốn - Lục Đạo - Tập Bốn - Bộ Thứ Bốn - Quỷ Thần

trước
tiếp

PHÁP UYỂN CHÂU LÂM

Sa-môn Thích Đạo Thế chùa Tây Minh biên soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

QUYỂN 6

Thiên thứ 4: LỤC ĐẠO

IV. Bộ thứ 4: QUỶ THẦN

Gồm có 11 phần: Thuật ý, Hội danh, Trụ xứ, Liệt số, Nghiệp nhân, Thân lượng, Thọ mệnh, Hảo xú, Khổ lạc, Quý tiện, Xá trạch.

PHẦN MỘT

THUẬT Ý 

Than ôi!

Luận về Quỷ Thần phép thuật, chỉ thích yêu tà. Trong cõi u minh, chất nhiều tội lỗi. Hoặc ở hang sâu, hay nương gò lớn. Cuối ngọn khe xa, rừng thẳm, giữa lòng bụi rặm, bờ hoang. Kỳ dị âm thanh, lạ lùng hình dáng. Dọa nạt ngu tình, lay động phàm thức. Hoặc đội hình chim xác cá, lòng thú mặt người. Hoặc cử nhạc đàn ca, đánh dùi gõ mõ.

Như các loài này, đều xin sám hối. Cùng thuộc chín châu Miếu vũ, vạn quốc thần linh. Thái Bá ở Cô Tô, Quý Trể ở Diên Ấp. Hạ Vũ đào sông, khơi dòng đầm, động. Hà bá, sơn tinh, thần mưa, thần gió, tốt tươi bồi bổ, lộc trạch mang về. Hoặc bay trên ngọn trúc như rồng, như chim bay, nhạn liệng, hình dựa dẫm vào Miếu thiêng, thể cận kề nơi lầu các.

Làm mưa, phân gió nặng, nhẹ, nhỏ, to cho đến đại tướng già đầu, Quỷ Thần tóc kim Tú Lợi Lặc Na, Bàn Trà La Sát, ba ngàn quyến thuộc, năm trăm tùy tùng, tất cả đều xin một lòng sám hối.

Lại có kẻ nghiệp chướng nặng nhất, gọi là Ngạ Quỷ. Mắt sáng như chớp, họng nhỏ như kim, không nghe được tiếng nước nôi, mất hẳn mùi lương thực.

Chân tay lửa đỏ nhất tề phát cháy, cử động rầm rộ như năm trăm xe. Hôm nay, thiện căn cũng được thấm nhuần đầy đủ.

Xin nguyện quỷ đang đói khát, ăn uống tự nhiên. Yêu mị Quỷ Thần, không còn nịnh hót. Xiển dương Phật Pháp, che chỗ thế gian. Bảo vệ tượng, kinh, cúng dường dốc chí. Ghi thiện chép ác, mãi mãi tu hành.

***

PHẦN HAI

HỘI DANH 

Sao gọi là đường quỷ?

Như Luận Lập Thế nói: Đường quỷ tên là Thiểm Đa. Bởi vì Vua Diêm Ma La tên Thiểm Đa. chúng sinh ở đấy đồng loại với Nhà Vua nên gọi là Thiểm Đa.

Lại còn bảo thêm: Đường này giao lưu với các đường khác, thiện ác tương thông, nên gọi là Thiểm Đa.

Lại nữa, Luận Tân Bà Sa có câu hỏi rằng: Vì sao đường ấy tên Bế Lệ Đa?

Đáp: Luận Thi Thiết bảo rằng Vua của Thế Giới quỷ hiện nay tên là Diệm Ma. Khi kiếp này mới thành, có Vua của Thế Giới quỷ tên Chủy Đa. Thế nên, chúng sinh vào đường ấy, sinh ra ở đấy, đều gọi là Bế Lệ Đa. Tức là mọi ý nghĩa trong Thế Giới Chủy Đa, từ đây trở về sau đều mang tên này cả.

Có người nói: Do tăng trưởng tăng thượng tham lận, tạo tác các ác hạnh về thân, ngữ, ý nên phải về đường ấy, sinh vào đường ấy, chịu nghiệp quả đói khát.

Trải qua hàng trăm ngàn năm không nghe được tên nước, huống gì thấy được, huống gì đụng được?

Hoặc có loại bụng lớn như núi, họng nhỏ như lỗ kim, tuy gặp đồ ăn thức uống, nhưng không thể nào thọ dụng được.

Có người nói: Bị sai khiến nên gọi là quỷ. Thường bị Chư Thiên khắp nơi sai khiến nên phải bôn ba. Vì có hy vọng nên gọi là quỷ. Nghĩa là, vì trong năm đường kia, chúng sinh có hy vọng không nhiều hơn đường này, nhân thế mới gọi là quỷ.

Lại nữa, mong cầu gọi là quỷ. Nghĩa là các Ngạ Quỷ ở đấy thường theo người khác, mong cầu ăn uống để nuôi sống tính mệnh, nên mới gọi là mong cầu.

***

PHẦN BA

TRỤ XỨ 

Như Luận Bà Sa nói:

Ngạ Quỷ có hai chỗ ở: Một là chính, hai là phụ. Thứ nhất là chỗ ở chính. Luận thuyết không nhất định.

Luận ấy nói: Cách phía dưới Châu Diêm Phù Đề năm trăm do tuần, có Thế Giới quỷ do Vua Diêm La cai quản, đó là chỗ ở chính.

Lại nữa, Kinh Thiện Sinh Ưu Bà Tắc cũng đồng ý với luận thuyết này:  Dưới năm trăm do tuần, có thành trì của Vua Diêm La. Chu vi bốn phía bảy vạn năm trăm ngàn do tuần. Nhà Vua cư trú ở giữa để cai quản loài quỷ.

Lại nữa, như Kinh Ngũ Đạo Khổ nói, loài Ngạ Quỷ này cư trú ở giữa hai ngọn núi Thiết Vi ấy, nên mới có kệ rằng:

Giữa hai ngọn núi Thiết Vi ấy, 

Không thấy ánh sáng Mặt Trời Mặt Trăng.

Ngạ Quỷ cư trú ở trong đó,

Để đền bù tội lỗi xa xưa.

Thứ hai là chỗ ở phụ. Như Luận Bà Sa nói cũng không nhất định.

Có hai loại quỷ: Một là có uy đức, hai là không có uy đức. Loại có uy đức ấy cư trú ở hang núi hoặc ở không trung, hay ở bờ biển. Loại ấy đều có Cung Điện, hưởng thụ phước báo hơn người.

Loại không có uy đức, hoặc dựa vào phẩn uế dơ dáy để ở, hoặc dựa vào cây cỏ mộ phần để ở, hoặc dựa vào chỗ nhà xí cũ để ở. Loại này đều không có nhà cửa, phước báo thua người. Lại nữa, luận nói, trong bốn châu lớn đều có quỷ ở.

Hai Châu Đông Tây cùng có loại có uy đức và không có uy đức cư trú. Trong Châu Bắc, chỉ có loại có uy đức, không có loại không có uy đức cư trú, do phước báo của loại ấy lớn hơn, nên mới được như thế. Thậm chí, trong Trời Đao Lợi cũng có loại không có uy đức cư trú, để đáp ứng nhu cầu sai sử của Chư Thiên. Từ đây trở lên, trong các Trời khác, không còn loài quỷ cư trú nữa.

Thế nên, Luận Bà Sa bản dịch mới nói rằng: Trong Trời Tứ Thiên Vương và Tam Thập Tam, chỉ có loài quỷ có uy đức lớn cư trú để lo liệu việc giữ cửa, canh phòng và tùy tùng cho Chư Thiên.

Có người nói: Về phía Tây châu Thiệm Bộ này có năm trăm bãi nhỏ. Ở đó, loài quỷ chia nhau cư trú thành hai hàng theo Luận Bà Sa bản củ thì ở phía Tây Châu Diêm Phù Đề có năm trăm thành quỷ. Trong đó, tự phân chia hành hai hàng riêng biệt.

Trong hai hàng bãi nhỏ này có năm trăm thành: Hai trăm năm mươi thành do loài quỷ có uy đức cư trú, hai trăm năm mươi thành do loài quỷ không có uy đức cư trú.

Bởi thế, ngày xưa có Chuyển Luân Vương tên Nệ Di bảo người đánh xe Ma Đát Lê rằng: Ta muốn đi tham quan. Nhà ngươi hãy đánh xe chạy theo đường này, để ta thấy được cảnh chúng sinh thọ lãnh quả báo thiện ác.

Bấy giờ, Ma Đát Lê tuân theo lời Nhà Vua, khi đánh xe ngang qua hai hàng bãi nhỏ, Nhà Vua thấy loài quỷ có uy đức, đầu đội tràng hoa, mình mặc áo Trời, ăn uống vị ngon giống như Thiên Tử, cưỡi xe voi, mọi người rong chơi vui thích.

Nhà Vua lại thấy loài quỷ không có uy đức thì đầu tóc rối bù, không mặc áo quần, nhan sắc khô héo, chỉ lấy tóc che thân, tay cầm bát đất đi ăn xin. Chứng kiến xong, Nhà Vua rất tin vào nghiệp quả thiện ác.

Hỏi: Đường quỷ hình dáng ra sao?

Đáp: Phần nhiều đứng thẳng lên giống người, nhưng cũng có loài nằm ngang, hoặc có mặt giống heo hay các loài cầm thú hung dữ khác, hệt như các hình được vẽ trên tường hiện nay.

Hỏi: Tiếng nói ra sao?

Đáp: Khi kiếp mới thành, đều nói tiếng Thánh. Về sau, tùy theo chỗ ở mà nói thành thứ tiếng.

Hoặc có người nói: Tùy theo chỗ nào vừa chết mà sinh vào đường này, thì sẽ có hình dáng và tiếng nói của chỗ ấy.

Bình luận rằng: Không nên lập luận như thế.

Nếu từ cõi Vô Sắc Giới chết xong, đầu thai xuống đường này, há rằng không có hình dáng, không có tiếng nói chăng?

Vậy thì, nên lập luận tùy theo chỗ sinh ra thế nào, thì sẽ có hình dáng và tiếng nói như thế ấy.

***

PHẦN BỐN

LIỆT SỐ 

Theo Kinh Chánh Pháp Niệm nói rằng: Tổng cộng Ngạ Quỷ có ba mươi sáu loại, do tạo nhân không giống nhau nên chịu quả đều khác biệt.

1. Quỷ trong vạc nước sôi: Do nhận lời người khác thuê mướn sát sinh, bị quả báo nấu trong vạc nước sôi, hoặc nhận lời người khác giữ giùm rồi giằng co không trả lại nên phải bị quả báo này.

2. Quỷ hôi hám, miệng nhỏ như kim: Đem của cải thuê mướn người sai đi sát sinh, nên có cổ nhỏ như mũi kim, một giọt nước cũng không lọt vào được.

3. Quỷ ăn ói mửa: Do chồng khuyên vợ bố thí, vợ tiếc của bảo rằng không có. Bỏn xẻn gom góp của cải, nên thường bị ăn ói mửa.

4. Quỷ ăn phân: Do vợ lừa dối chồng, ăn uống một mình, ghét bỏ hiềm nghi chồng, nên thường phải ăn phân của người khác tuôn ra.

5. Quỷ ăn lửa: Do cấm đoán người về đường lương thực, khiến người tự sát, nên phải bị quả báo lửa đốt, kêu gào khổ sở vì đói khát.

6. Quỷ ăn mùi vị: Do ăn nhiều món ngon, không chia cho vợ con, nên thường bị đói khát, chỉ được ngửi mùi vị mà thôi.

7. Quỷ ăn pháp: Do tham của cải, Thuyết Pháp cho người, nên thường bị đói khát, da thịt tiêu tan. Phải nhờ Sa Môn Thuyết Pháp, mới mong giữ được tính mệnh.

8. Quỷ ăn nước: Do bán rượu như nước để mê hoặc kẻ ngu si, không giữ gìn trai giới, thường bị khát cháy khô.

9. Quỷ hy vọng: Do tranh giành giá cả mua bán, lừa gạt người để lấy của nên thường bị đói khát. Chờ người cúng tế tiên linh mới được ăn.

10. Quỷ ăn khạc nhổ: Do đem thức ăn không tinh khiết lừa gạt người tu hành, thân thường bị đói khát, luôn bị thiêu đốt, phải cầu xin người khạc nhổ và ăn đồ dơ của người.

11. Quỷ ăn tràng hoa: Do kiếp trước ăn cắp tràng hoa của Phật để làm đồ trang sức cho mình. Nếu gặp người phải cúng vái, đem tràng hoa cúng tế tạ ơn, nhờ thế được ăn tràng hoa.

12. Quỷ ăn huyết: Do sát sinh để cúng tế, không chia cho vợ con, nên bị làm quỷ này. Phải dùng huyết bôi lên đồ cúng, mới có thể ăn được.

13. Quỷ ăn thịt: Do lấy thịt của chúng sinh xắt nhỏ, cân lường, mua bán gian dối nên bị quả báo này. Khi cúng giỗ, phải dùng nhiều loại thịt mới có thể ăn được.

14. Quỷ ăn nhang: Do bán nhang xấu để thu lợi nhiều, chỉ được ăn khói nhang, sau còn phải bị quả báo nghèo khổ.

15. Quỷ ăn nhanh: Nếu có kẻ phá giới mà còn mặc pháp phục, lừa dối để lấy tiền của, nói dối đem cho người bệnh, nhưng lại không cho, tự mình ăn hết. Do bị quả báo này, thường ăn đồ dơ, tự thiêu đốt thân mình.

16. Quỷ rình cơ hội: Do lập mưu mô lừa gạt lấy của cải, không cúng dường tu phước nên bị quả báo này. Lông lá trên mình phát cháy, ăn lấy khí lực dơ dáy của người để sống còn.

17. Quỷ hắc ám: Do bẻ cong pháp luật, bắt người bỏ ngục để mưu cầu tiền tài, khiến người mắt chẳng thấy gì, tiếng thường rên xiết, nên phải bị quả báo ở ngục tối tăm, chứa đầy rắn độc, đau đớn như dao cắt.

18. Quỷ lớn sức: Do trộm cướp của cải của người ta, đem chia cho người xấu, không cúng dường làm phước nên bị quả báo này. Có thần thông, lớn sức, nhưng chịu nhiều khổ não.

19. Quỷ rực lửa: Do phá thành cướp bóc lương dân, nên bị quả báo này. Kêu gào la hét, khắp mình rực lửa. Sau đó, đầu thai làm người, thường bị cướp bóc.

20. Quỷ rình trẻ con: Do giết trẻ con, khiến người sinh lòng giận lớn, nên bị quả báo này. Thường rình mò cơ hội để hại trẻ con.

21. Quỷ dâm dục: Do thích dâm dục, có tiền của không cúng dường tạo phước nên bị quả báo này. Thường đi rong khắp thế gian, giao du với người, làm trò yêu quái để sống.

22. Quỷ ở hải đảo: Do đi giữa đồng không, gặp người bị bệnh đau đớn, lừa gạt chiếm đoạt tiền của, phải bị sinh ra giữa hải đảo, chịu khổ sở về thời tiết nóng lạnh gấp mười lần người.

23. Quỷ cầm binh khí cho Diêm La: Do kiếp trước được thân cận với Vua quan, chuyên làm chuyện tàn ác nên phải chịu quả báo này. Bị sai phái làm quỷ cầm nghi trượng theo hầu Nhà Vua.

24. Quỷ ăn trẻ con: Do đọc chú pháp mê hoặc người để lấy tiền của, sát hại heo, dê. Khi chết, bị đọa vào Địa Ngục. Sau đó, mới bị quả báo này, thường hay ăn thịt trẻ con.

25. Quỷ ăn tinh khí của người: Do giả vờ làm bạn thân, hứa che chở người, khiến người trở nên dũng cảm, liều chết ở trận mạc. Mình không ra tay cứu giúp nên bị quả báo này

26. Quỷ La Sát: Do sát sinh để bày tiệc lớn nên phải chịu quả báo bị lửa đói thiêu đốt này.

27. Quỷ bị lửa đốt thân: Do thói bỏn xẻn, ghen ghét che mất chân tâm, thích ăn đồ chay của Sa Môn, bị đọa vào Địa Ngục, rồi từ Địa Ngục thoát ra, chịu quả báo làm quỷ bị lửa thiêu đốt thân mình.

28. Quỷ đầu đường ăn dơ: Do đem đồ ăn không tinh khiết cúng dường đường Sa Môn nên bị quả báo này. Thường ăn đồ dơ.

29. Quỷ ăn gió: Do gặp Sa Môn đến khất thực, đã hứa nhưng không chịu cúng dường thức ăn, nên bị quả báo này. Thường chịu đói khát khổ sở như trong Địa Ngục.

30. Quỷ ăn than hồng: Do cai quản trại giam, cấm không cho ăn uống, nên bị quả báo này. Thường phải ăn than hồng.

31. Quỷ ăn lửa độc: Do đưa đồ ăn có thuốc độc khiến người mất mạng, nên phải bị đọa vào Địa Ngục, sau sinh làm quỷ. Thường chịu đói khát, phải ăn lửa độc thiêu đốt thân mình.

32. Quỷ ở đồng không: Do ở đồng không đào thành ao hồ để cung cấp nước cho kẻ bộ hành. Lại chửa rủa, quyết tâm phá bỏ, khiến người thiếu thốn khát nước, nên phải bị quả báo này. Thường bị đói khát, lửa cháy thiêu đốt thân mình.

33. Quỷ ăn tro tàn ở mồ mả: Do ăn cắp hoa quả cúng Phật để sống, nên bị quả báo này. Thường ăn tro tàn còn nóng ở chỗ thiêu xác người chết.

34. Quỷ ở dưới cây: Do thấy người trồng cây tạo bóng mát cho người, đem ác tâm chặt phá lấy gỗ về dùng, nên bị đọa vào trong cây, thường chịu khổ sở nóng lạnh.

35. Quỷ ở ngã tư đường: Do trộm cướp lương thực của kẻ đi đường, tạo nên ác nghiệp, nên thường bị cưa sắt cắt xẻ thân hình. Nhờ thiên hạ cúng vái ở ngã tư đường, kiếm lấy đồ ăn sống qua ngày.

36. Quỷ có thân Ma la: Do làm tà đạo, không tin Chánh Pháp, nên bị đọa vào Địa Ngục. Thường phá hoại các phép lành của người khác.

Theo Luận Thuận Chánh Lý nói: Quỷ ấy có ba loại, ấy là quỷ không của cải, quỷ ít của cải và quỷ nhiều của cải.

Quỷ không của cải lại có ba loại là quỷ miệng đuốc, quỷ miệng kim và quỷ miệng hôi. Quỷ miệng đuốc thì trong miệng thường phun lửa mạnh, cháy rực không ngừng.

Thân như bị đốt cháy giống cây Đa La. Đây là quả báo gây nên do quá sức keo kiệt. Quỷ miệng kim thì quỷ này bụng lớn, có sức chứa như hang núi, miệng nhỏ như lỗ kim.

Tuy thấy các loại đồ ăn uống cao sang ngon tuyệt, cũng không thể hưởng thụ được. Bị đói khát hành hạ, khó chịu đựng nổi. Quỷ miệng hôi thì quỷ này trong miệng thường phát ra mùi hôi cực kỳ thối tha, hơn cả mùi phân ô uế bốc lên ở cửa hố xí.

Mùi hôi tự bốc lên, bắt phải nôn khan. Giá có thức ăn, cũng không thể nuốt được. Khổ não vì đói khát, kêu réo chạy nhảy một cách điên cuồng.

Quỷ ít của cải cũng có ba loại, ấy là quỷ lông kim, quỷ lông hôi và quỷ có bướu. Quỷ lông kim thì loại này lông lá cứng rắn, cưa bén cũng không ăn vào.

Trong thì cọ nhằm nội tạng, ngoài thì găm vào loài khác. Như nai trúng tên độc, kinh hoàng chạy nhảy một cách điên cuồng. Có khi gặp được đồ dơ, tạm thời giúp cơn đói khát.

Quỷ lông hôi thì loại này lông lá rất hôi hám. Ô uế thường hun húc thối tha xương thịt, bốc hơi rã nát ruột gan. Xông lên cổ họng thành nôn. Độc địa khó chịu, phải véo thịt nhổ lông, rách nát da thịt, càng thêm khổ sở. Có khi gặp được đồ dơ, tạm thời giúp cơn đói khát.

Về quỷ có bướu, thì loại này do nghiệp lực xấu xa, nên cổ họng sinh ra bướu lớn, như mụt nhọt lớn. Nhức nhối, nóng sốt, đau đớn càng thêm tệ hại. Có khi máu mủ vọt lên, cùng giành nhau ăn lấy, tạm qua cơn đói.

Quỷ nhiều của cải cũng có ba loại ấy, ấy là quỷ mong cúng tế, quỷ mong đồ nhổ bỏ và quỷ có thế lực. Quỷ mong cúng tế thì quỷ này thường ngày đến trong đền thờ hưởng lộc của người cúng tế, sẵn có tự nhiên… Đôi khi du lịch phương xa, như chim tung cánh giữa Trời, đi về thỏa thích.

Nhờ vào kiếp trước, hiểu biết cao xa, hy vọng thế này: Một mai, nếu ta mệnh chung, tất cả con cháu chắc hẳn sẽ cúng tế cho ta đầy đủ cho ta phẩm vật ăn uống. Do nghiệp lực của nhận thức ấy, được sinh vào loại quỷ này. Theo nhân lành của kiếp trước, nên thọ lãnh được sự cúng tế.

Hoặc có kẻ, kiếp trước vốn yêu quý người thân, vì muốn cho ai nấy đều được giàu có no đủ, nên đã không theo Chánh Pháp, tom góp báu vật, nuôi lòng keo kiệt, không biết Bố Thí.

Theo ác nghiệp này, phải sinh vào trong đường quỷ, ở các chỗ bài tiết dơ dáy, bên cạnh nhà cũ. Người thân nhớ đến, đón rước Sa Môn, Phạm Chí, kẻ cô đơn nghèo khổ để cúng dường làm phước. Quỷ ấy thấy xong, đối với người thân và các của cải, trong lòng nhớ lại và thấy rõ ràng quả báo keo kiệt hiện tại.

Lòng sinh tin tưởng vào chuyện cúng dường tạo phước. Tiếp tục tăng trưởng, dứt bỏ được nghiệp tương ứng. Nhờ thế, thành tựu được nghiệp quả Thuận hiện pháp thụ. Nhân thế lực này, nên được giàu có no đủ.

Quỷ mong đồ nhổ bỏ thì loại này thường muốn thu dọn đàm dãi nhổ bỏ và phân dư của người để làm đồ ăn uống, cũng được sung túc. Vì loại quỷ này, ở vào kiếp trước, mỗi khi ăn uống, thấy dơ uế thì cho là không, tinh khiết thì cho là dơ uế. Nhờ vào phước lực hiện tại, tùy theo nhu cầu, đều được sung túc.

Miếng ăn thức uống, tuy có sẵn tự nhiên, nhưng do quả báo không giống nhau, nên không thể mong cầu nhiều hơn được. Bởi lẽ, như trong đường Địa Ngục, chịu quả dị thục, dứt xong lại nối, ở các đường khác thì không.

Như trong đường người, có kẻ siêu phàm, tu theo Phạm Hạnh, trong các đường khác thì không. Như trong đường Trời, tùy theo nhu cầu, mọi thứ hiện đủ. Về những thứ này, tuy có sẵn tự nhiên, nhưng không thể ở trong đó, mong cầu một số lượng giống nhau nhất định. Quỷ có thế lực lớn thì rất tương đồng với lời của Luận Bà Sa đã nói trước đây.

Lại nữa, luận Du Già nói: Đường quỷ có ba loại.

Một là quỷ ngoại chướng, nghĩa là chúng sinh ấy, vì thói keo kiệt quá cao, phải sinh vào đường quỷ, chịu quả báo đói khát tương ứng. Da thịt héo queo, giống như than đỏ. Đầu tóc bù rối, môi miệng cháy khô. Thường hay lấy lưỡi, liếm láp miệng mặt. Đói khát kinh hoàng, chạy bay khắp xứ.

Đến chỗ suối hồ, gặp chúng sinh khác, tay cầm dao gậy, chận chẳng cho vào. Nước thành máu mủ, không thể uống được. Đấy gọi là quỷ ngoại chướng.

Hai là quỷ nội chướng, nghĩa là loài ấy, miệng lớn bằng kim, bụng dạ to tướng. Nếu được miếng ăn, cũng không nuốt được. Đấy gọi là quỷ nội chướng.

Ba là có loài Ngạ Quỷ tên Vầng lửa dữ, trong các bữa ăn, đều bị đốt cháy. Do nhân duyên này, đói khát quá khổ. Đấy gọi là quỷ vô chướng.

Còn như, mua danh chuốc lợi, trả báo làm vui. Độc địa hại người, sẽ rước ác quả. Tuy thế, thiện như leo núi, đương nhiên khó lên, ác giống rơi xuống, dễ dàng thực hiện. Bởi vậy, Thiên Đường mở rộng, người đến lưa thưa, Địa Ngục đậy lồng, kẻ vào chen chật.

***

PHẦN NĂM

NGHIỆP NHÂN 

Như Luận Trí Độ nói: Ác có ba bậc, nhưng tạo ác bậc dưới, liền sinh vào trong đường Ngạ Quỷ.

Theo Luận Thập Địa, cũng đồng lý thuyết này: Trong mười nghiệp ác, vừa tạo nghiệp nào, trước tiên, tất cả phải sinh vào ba đường ác, sau đó, mới được làm thân người.

Còn theo Kinh Chánh Pháp Niệm nói: Nếu nổi tham, ghen, nịnh nọt, ton hót, lừa dối đối với người, hoặc lại tham lam keo kiệt, giữ của không chịu bố thí, đều bị sinh vào đường quỷ. Từ trong đó chết đi, phần nhiều bị sinh vào trong đường Súc Sinh.

Phải làm chim Già Tra Ca, thường xuyên đói khát, chịu nhiều thảm não. Chỉ uống nước Trời mưa, ngước cổ hứng lấy, không được uống thêm các loại nước khác. Bởi thế, luôn luôn chịu khốn khổ đói khát.

Theo Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt nói:

Tạo đủ mười nghiệp sau đây, sẽ phải sinh vào trong đường Ngạ Quỷ: Một là thân làm ác nhỏ, hai là miệng làm ác nhỏ, ba la ý làm ác nhỏ, bốn là keo kiệt bủn xỉn, nhiều tham lam, năm là tâm không phân biệt ác, sáu là ton hót ghen ghét, bảy là nổi lên tà kiến, tám là yêu quý của cải đến nỗi bỏ mạng, chín là nhịn đói đến nỗi chết mất, mười là nhịn khát đến nỗi chết mất. Do mắc mười nghiệp này, phải sinh vào đường Ngạ Quỷ.

Lại nữa, Luận Phân Biệt Công Đức nói: Có các Sa Môn thực hành phép Thiền quán, hoặc ở mồ mả, hoặc ở dưới tàn cây. Bấy giờ, ở dưới tàn cây, quán đến tử thi. Ban đêm, thấy Ngạ Quỷ đánh một tử thi.

Sa Môn hỏi rằng: Tại sao lại đánh tử thi này?

Ngạ Quỷ trả lời: Vì tử thi này làm tôi khổ sở đến thế này, nên tôi phải đánh nó.

Sa Môn nói: Tại sao không đánh tâm của nhà ngươi, lại đánh tử thi này?

Liệu có ích gì.

Một lát sau, lại có một vị Trời đem hoa Mạn Đà La trên Trời rải lên xác thối ấy.

Sa Môn hỏi rằng: Tại sao rải hoa lên xác thối này?

Vị Trời trả lời: Ta nhờ tử thi này mới được sinh lên Trời. Tử thi này chính là bạn tốt của ta, nên ta xuống đây rải hoa lên, để báo đáp ơn nghĩa xa xưa.

Sa Môn trả lời: Tại sao không đem hoa rải lên trong tâm của ông, lại đem rải lên cho tử thi?

Này. Cội gốc của hành động thiện ác đều do tâm tạo ra.

Vậy mà lại bỏ gốc tìm ngọn.

***

PHẦN SÁU

THÂN LƯỢNG 

Như Kinh Ngũ Đạo nói: Tầm vóc lớn nhất của Ngạ Quỷ thì cao một do tuần, đầu như núi lớn, trong cổ họng nhỏ như kim, tóc tai bờm xờm, hình dung gầy guộc, chống gậy mà đi. Tầm vóc như thế, thì thật là nhiều.

Nhỏ nhất thì bằng đứa trẻ mới biết đi.

Có người nói: Kích cỡ chừng trong khoảng ba tấc, theo Kinh Đã nói đầy đủ, không cần phải ghi chép rõ ràng.

***

PHẦN BẢY

THỌ MỆNH 

Như Kinh Quán Phật Tam Muội nói: Có Ngạ Quỷ sống thọ nhất được tám vạn bốn ngàn tuổi, yểu thì không có hạn định. Theo Luận Thành Thật, thọ nhất được bảy vạn tuổi, yểu cũng không có hạn định.

Nếu theo Kinh Ưu Bà Tắc nói: Thọ nhất được một vạn năm ngàn tuổi. Như một ngàn năm trăm năm của nhân gian bằng một ngày đêm của Ngạ Quỷ. Ngạ Quỷ ấy thọ một vạn năm ngàn tuổi, nếu tính theo ngày tháng của nhân gian, sẽ phải là hai ngàn bảy trăm vạn tuổi.

Nếu theo Kinh Chánh Pháp Niệm nói: Có loài quỷ sống thọ năm trăm tuổi. Như mười năm của nhân gian bằng một ngày đêm của Ngạ Quỷ. Ngày đêm dài như thế. Quỷ ấy thọ năm trăm tuổi, nếu tính theo số ngày tháng của nhân gian, sẽ phải là một tám mươi vạn tuổi.

***

PHẦN TÁM

HẢO XÚ 

Như Luận Bà Sa nói: Thứ nhất là đẹp. Đẹp trong đường quỷ thì như loại có uy đức, thì hình dung đoan chính, không khác Chư Thiên. Vả lại, tất cả các thần núi, thần biển của ngũ nhạc, Tứ Độc đều rất đoan chính, gọi là đẹp cả.

Thứ hai là xấu, ấy là loại quỷ không có uy đức. Hình dung xấu xí, không thể nói hết. Thân xẹp như bụng chó đói, đầu rối như mớ bòng bong. Cổ họng nhỏ xíu bằng đầu kim, chân tay teo như cành củi mọc. Miệng thường chảy dãi, mũi tuôn lòng thòng. Trong tai mưng mủ, trong mắt ứa máu. Loại quỷ như thế, gọi là xấu nhất.

***

PHẦN CHÍN

KHỔ LẠC 

Như Luận Bà Sa nói: Thứ nhất là khổ trong đường quỷ, tức là loài quỷ không có uy đức ở đấy.

Thường xuyên đói khát, không nghe đến tiếng nước nôi, há gặp được thứ cam lộ ngọt ngào ấy?

Giả thuyết gặp được sông sâu muốn uống, liền biến thành lửa đuốc cháy phừng. Vì phỏng được đưa vào cổ, lập tức gan ruột cháy sém rã rời.

Như loại quỷ này, há chẳng khổ sao?

Thứ hai là vui trong đường quỷ, tức là loại quỷ có uy đức ở đấy, luôn luôn giàu có đẹp đẽ. Áo quần tự nhiên có sẵn. Thân mặc áo Trời, miệng ăn mỹ vị của Trời. Hình dáng lớn cao phóng khoáng, dong xe thong thả lướt đi. Chơi đùa thỏa thích, không khác gì Trời.

Như loại quỷ này, há chăng vui sao?

Hỏi: Nếu đã vui như thế thì hơn hẳn người.

Tại sao Kinh nói người và quỷ khác đường?

Đáp: Kinh nói đường Quỷ Thần không bằng đường người.

Tóm tắt có hai lý do: Một là hưởng báo phần hiển hiện không bằng người. Vì Quỷ Thần ở đấy ngày núp đêm đi, nên không bằng người. Hai là nhút nhát, nhiều lo sợ, nên không bằng người. Tuy có uy đức, nhưng vì phước báo yếu kém nên thường lo sợ người. Giả sử đêm ngày gặp người, thường phải ẩn núp né tránh.

Hỏi: Đã yếu kém hơn người, tại sao lại có phước báo uy đức bằng Chư Thiên?

Đáp: Đúng thế, vì do tiền thân đã Bố Thí nhiều, nên hưởng được báo thân có uy đức. Do tiền thân đã ton hót, không thành thật, nên phải sinh vào đường quỷ này.

***

PHẦN MƯỜI

QUÝ TIỆN 

Như Luận Bà Sa nói: Quỷ có uy đức thì gọi là sang, quỷ không có uy đức thì gọi là hèn.

Lại nữa, quỷ làm Chúa thì gọi là sang, quỷ bị sai sử thì gọi là hèn.

Giàu nghèo thì thế nào?

Quỷ có uy đức thì có nhiều quần áo, có dư vật thực, được phục dịch tự tại, ấy gọi là giàu. Thân thường phải bôn ba, phải luôn luôn làm lụng, miếng cơm hẩm không nghe, manh áo rách khó gặp. Như loại quỷ này, đáng gọi là nghèo vậy.

***

PHẦN MƯỜI MỘT

XÁ TRẠCH 

Như Luận Bà Sa nói: Quỷ có uy đức thì có đền đài trang hoàng bằng bảy loại châu báu. Tất cả các vị thần trong đất nước đều có đền đài làm chỗ cư trú.

Quỷ không có uy đức như loại quỷ lang thang trôi nổi, như loại quỷ đói khát, đều không có nhà cửa. Tạm thời nương náu nơi mồ mả, đắp đổi dựa chân trong chốn Chùa Chiền, hay trong hang hốc, cỏ cây. Ấy là nơi cu trú của chúng.

Bởi thế luận Trang Nghiêm nói rằng: Phật bảo, ngày xưa ta từng nghe có người con trai của nhà buôn lớn tên là Ức Nhĩ, vượt biển để tìm mua châu báu, xong xuôi thì trở về. Vì tách ở riêng với đồng bạn, bị thất lạc, nên đâm ra hết sức kinh hoàng.

Bị đói khát hành hạ, thấy xa xa có một ngôi thành, cho là có nước, cố đến bên thành, muốn xin nước uống, nhưng thành ấy là thành của Ngạ Quỷ. Khi vào trong thành, ngay ngã tư đường, là nơi mọi người tu hội, thì chẳng thấy gì.

Vì quá đói khát, cất tiếng lên xin: Nước! Nước!

Bọn Ngạ Quỷ nghe được tiếng nước, nước ấy, nhất tề xông đến: Không biết có kẻ nào đem nước cho chúng ta đây?

Bọn Ngạ Quỷ này, thân thể như cột nhà cháy, xõa tóc quấn quanh mình, cùng chắp tay nói thế này: Xin cho bọn tôi nước uống.

Ức Nhĩ thấy thế, nói rằng: Tôi bị cơn khát hành hạ quá, nên mới đến đây xin nước. Bấy giờ, bọn Ngạ Quỷ nghe Ức Nhĩ nói vì bị cơn khát hành hạ, nên mới đi tìm nước thì hy vọng của chúng liền tiêu tan.

Tất cả đều thở dài, nói thế này: Ông há không biết đây là thành của Ngạ Quỷ sao?

Làm sao có thể kiếm được nước ở trong thành này.

Bèn nói kệ rằng:

Bọn tôi ở thành này,

Đã trăm nghìn vạn kiếp,

Còn chưa nghe tên nước,

Huống gì là chuyện uống?

Giống như cây Đa La,

Bị đốt cháy phực lên.

Bọn tôi cũng như thế,

Chân tay bị nhen lửa.

Đầu tóc như bòng bong,

Thân thể đều nứt bấy.

Đêm ngày nhớ uống ăn,

Kinh hoảng kiếm mười phương.

Đói khát hành hạ quá,

Há miệng chạy đi xin.

Có người xách gậy rượt,

Tìm, bắt đánh rất đau.

Hèo quất, không cho đến,

Bọn tôi đành cam chịu.

Làm sao có được nước,

Để đem cho người khác?

Kiếp trước của bọn tôi,

Rất tham lận, ghen ghét.

Chưa từng cho một ai,

Nước uống và thức ăn.

Của mình đã không cho,

Còn bắt người đừng cho.

Vì tạo nghiệp ác ấy,

Hôm nay chịu khổ này.

Cảm Ứng Duyên: Trích dẫn sơ lược sáu chuyện linh nghiệm.

1. Tư Mã Văn Tuyên đời Tống, người Hà Nội: Cũng tin Phật Pháp. Vào năm Nguyên Gia thứ chín, đang có tang mẹ thì em mất. Sáng ngày rằm, bỗng thấy em mình hiện nguyên hình trên linh vị, không khác ngày thường.

Quanh co thở dài, xin cho ăn uống… Văn Tuyên hỏi thử: Lúc còn sống, em tu hạnh Thập Thiện. Theo Kinh nói, phải được sinh lên Trời hay sinh làm người.

Tại sao lại sinh vào đường Ngạ Quỷ thế này?

Người em cúi xuống, nhìn lên, trầm ngâm im lặng, không chịu trả lời.

Ngay đêm ấy, Văn Tuyên mơ thấy em mình về nói: Công phu tu thiện của em đã được quả báo sinh lên Trời rồi. Con quỷ sáng nay hiện ra trên bàn thờ chỉ là loại quỷ mị, không phải là em. Sợ anh ngờ vực, nên phải đến nói rõ cùng anh.

Sáng hôm sau, Văn Tuyên mời Tăng Sĩ đến Tụng Kinh Lăng Nghiêm và sai người đánh đuổi đi. Con quỷ ấy liền trốn dưới giường rồi chạy ra ngoài cửa, hình thù khá xấu xí. Cả nhà đều kinh hãi, mắng nhiếc đuổi đi.

Quỷ trả lời: Đói quá phải đến xin ăn thôi.

Ít lâu sẽ đi. Một lát sau, trên đầu bàn thờ của mẹ ông lại có một con quỷ khác, da dẻ hình dung màu đỏ, thân thể rất cường tráng. Văn Tuyên thở dài, gợi chuyện qua lại, đều trả lời rành mạch. Lúc đầu còn sợ sệt, cuối cùng cũng hơi quen thuộc. Con quỷ cũng lân la lại gần, ăn ở vào ra gần như người nhà.

Bấy giờ, ở Kinh Đô cùng nhau truyền miệng đồn đãi. Người xem đi về, dấu chân chồng chéo đầy cửa. Lúc ấy, tại Chùa Nam Lâm có một Tăng Sĩ cùng với Tăng Sĩ ở Chùa Linh Vị là Sa Môn Hàm đã cùng với con quỷ đàm luận, cũng rất khúc chiết.

Quỷ nói: Kiếp trước, tôi cũng từng là người tôn quý. Vì phạm nhiều tội ác, phải chịu quả báo, chưa trả xong thì làm quỷ. Đến năm Dần, sẽ có đám quỷ bốn trăm đứa, bọn chúng làm ra bệnh dịch. Trong những người phải chịu nạn, không liên can đến các vị tu hành.

Nhưng bọn quỷ ngang ngược đông quá, sẽ lạm dụng ra uy thiện phước, nên trên sai tôi đến giám sát bọn chúng. Tăng Sĩ đưa đồ ăn đến cho.

Quỷ nói: Tôi đã có đồ ăn, không cần phải đem cho những thứ này.

Sa Môn Hàm nói: Quỷ biết nhiều chuyện, hãy nói thân ta từ đâu đến?

Tại sao làm Sa Môn?

Trả lời rằng: Từ đường người đến. Nhân duyên Xuất Gia vốn do lời thệ nguyện.

Hỏi về chung cuộc của những lẽ tồn vong, sinh tử, quỷ trả lời đại khái, đều có hiệu nghiệm rõ ràng.

Những chi tiết ấy rất nhiều, không thể ghi chép tỉ mỉ.

Sa Môn Hàm hỏi: Ông vốn không đến xin ăn, tại sao ở lâu đến thế?

Quỷ trả lời: Tại đây có một cô gái, đáng lẽ phải bị bắt. Nhưng vì giữ gìn giới hạnh tinh tiến, nên không thể bắt được.

Lâu nay, tôi nấn ná ở đây là vì chuyện ấy. Làm quấy rối chủ nhà, thật đáng hổ thẹn.

Từ đó về sau, rất ít thấy bóng dáng. Những kẻ đến xem sau, chỉ còn được nghe tiếng nói.

Bấy giờ là năm Nguyên Gia thứ mười, đến ngày hai mươi tám tháng ba, quỷ nói với Văn Tuyên rằng: Lâu nay đến ở nhờ, thấy ông xuất hết của cải làm phước.

Đáng nễ như thế, làm sao ở lâu?

Hiếu Tổ tự của Văn Tuyên trả lời: Đã cho ông ở nhờ, tại sao lại ở trên bàn thờ Tổ Tiên của người ta?

Trả lời: Những người đã mất trong nhà ông đều có chỗ ở cả. Chỗ này chỉ bày suông ra thôi. Thế nên, tôi mới ở tạm. Liền đó, từ biệt ra đi.

2. Vương Hồ đời Tống, người Trường An: Có người chú mất đã vài năm, đến năm Nguyên Gia thứ hai mươi ba, bỗng hiện hình về nhà, trách Hồ chỉ lo tu hành, bỏ phế việc nhà không lo liệu, đánh phạt năm mươi gậy. Những người hai bên và làng xóm đều nghe tiếng nói và tiếng gậy đánh phạt của người chú, lại thấy cả vết roi, nhưng không thấy hình dáng của người chú.

Chỉ một mình Hồ là thấy được.

Người chú bảo: Số ta chưa đáng chết. Thần bảo cần ta để coi sóc bọn quỷ. Nay ta phải đi theo đoàn quan binh đông đảo, sợ Kinh Động hàng xóm nên không cho vào. Hồ cũng thấy đoàn quỷ náo động ở ngoài làng.

Giây lát, người chú từ biệt ra đi, và bảo rằng: Ngày mồng bảy tháng bảy sang năm, ta sẽ trở về đưa cháu đi tham quan cõi âm, để biết sự báo ứng của tội phước. Không cần bày vẽ tốn kém, nếu cháu không bỏ ý định, chỉ mang theo trà thôi.

Đến kỳ hẹn, quả nhiên người chú trở về nói với người nhà của Hồ: Nay ta đưa Hồ đi tham quan xong sẽ cho về. Chẳng có gì đáng lo ngại. Hồ lập tức nằm lên giường, lặng bặt như chết. Liền đó, người chú đưa Hồ đi tham quan khắp các chỗ núi non, xem đủ các loài yêu quỷ.

Cuối cùng, đến Tung Sơn, bọn quỷ gặp Hồ, đều làm tiệc thết đãi. Những món ngon đem mời không khác với thế gian, chỉ có món gừng thì rất giòn và ngon tuyệt. Hồ muốn giấu đem về.

Bọn ngồi hai bên cười Hồ và nói: Chỉ nên ăn tại đây, không được mang về. Đến cuối, Hồ thấy một chỗ nhà cửa đẹp đẽ, rộng rãi. Màn chiếu sạch sẽ, chỉnh tề. Có hai Tăng Sĩ nhỏ tuổi ở đó. Hồ bước đến, hai Tăng Sĩ nhỏ tuổi dọn mời trái cây và trầu cau. Hồ đi tham quan cũng lâu, thấy đủ báo ứng của tội phước khổ vui, bèn xin từ biệt trở về.

Chú của Hồ bảo: Cháu đã biết thiện rất đáng tu, không nên tu Tại Gia. Ngài chân trắng như lụa, giới hạnh tinh tiến cao siêu. Thật xứng đáng làm Thầy.

Ở Trường An có vị Sa Môn chân trắng không dơ, nên người đương thời gọi là Bạch túc a luyện chân trắng như lụa bạch, được giặc Ngụy rất tôn kính. Vua giặc Ngụy tôn làm Thầy.

Hồ đã đến xin Quy Y với Ngài trong Chùa, liền thấy hai Tăng Sĩ nhỏ tuổi từng gặp năm trước trên Tung Sơn đang theo học trong Đại Chúng. Hồ thất kinh, đem kể lể chuyện xa cách, hỏi thăm đến đây từ lúc nào.

Hai Tăng Sĩ trả lời: Bần đạo lâu nay vẫn ở Chùa này, không nhớ trước đây có quen biết với huynh. Hồ nhắc lại chuyện gặp gỡ trên Tung Sơn.

Hai Tăng Sĩ nói: Huynh lầm với ai rồi. Đâu có chuyện ấy.

Đến sáng hôm sau, hai Tăng Sĩ tự nhiên đi mất. Hồ đem kể rõ cho các Sa Môn chuyện gặp mặt trước đây trên Tung Sơn. Đại chúng đều kinh ngạc, lập tức đi tìm hai Tăng Sĩ, không biết ở chỗ nào. Mới hiểu ra, họ chính là thần nhân.

Cuối niên hiệu Nguyên Gia, có Tăng Sĩ ở Trường An tên là Thích Đàm Sảng đến chơi Giang Nam, kể rõ đầu đuôi như thế.

3. Lý Đán đời Tống, tự là Thế Tắc, người Quảng Lăng: Nhờ hiếu thảo, cẩn trọng, thành thật, nổi danh khắp làng xóm. Ngày mười bốn tháng giêng năm Nguyên Gia thứ ba, đột ngột chết mất, nhưng lồng ngực vẫn còn ấm.

Bảy ngày sau sống lại, đút cháo cho ăn, một lúc sau bình thường như cũ, kể rằng: Có người cầm phướn làm hiệu, đến đầu giường bảo Vua Diêm La có lệnh cho gọi. Đán liền đi theo một mạch về hướng Bắc. Đường xá rất bằng phẳng, yên lặng.

Khi đến nơi, thấy thành quách lầu gác cao lớn đẹp đẽ, giống như cung điện hiện nay. Sai viên truyền giáo hỏi thăm và bảo đi tới trước. Thấy trên tòa sảnh lớn có ba mươi vị ngồi làm việc. Mặc áo đơn, chít khăn xanh, phân ban ngồi rất đông đúc. Một vị ngồi phía Đông, mặc áo bào, tựa vào ghế. Thị vệ hầu hạ hơn trăm người.

Người ấy nhìn Đán rồi phán với các vị đang ngồi rằng: Nên chỉ cho thấy Địa Ngục để nhân gian biết rõ. Đán vừa nghe phán xong, ngửng đầu lên nhìn quanh bốn phía, không nhận ra đâu nữa. Nhìn lại thì thấy đang ở trong Địa Ngục, thấy đám tội nhân đang chịu quả báo, rên rĩ kêu gào không thể nhìn nổi.

Bỗng viên truyền giáo nói: Vua Diêm La cho phép ông về. Sẽ đến đón ông lần nữa. Nhờ thế, mà được trở về. Đến tháng giêng năm Nguyên Gia thứ lại chết.

Bảy ngày sau sống lại, thuật rõ mọi chuyên đã thấy, đại khái cũng như trước đây. Hoặc có tội nhân gởi lời nhắn lại với Gia Đình, lúc sống đã phạm tội, nhờ ra tay làm phước giùm cho. Nói qua tên họ, thân thích, làng xóm. Đán theo lời tìm đến, đều gặp được để chuyển lời. Đán còn nói vào năm Giáp Thân, sẽ xảy ra trận dịch để tiêu diệt kẻ ác.

Đệ tử thờ Phật, giữ giới Bát Quan Trai, tu tâm làm lành sẽ đượt thoát nạn. Đán giữ chức tế tửu của Đạo gia, bèn muốn bỏ đạo của mình. Đồ chúng khuyên răn, nên Đán theo cả hai bên, nhưng vẫn thường nhắn nhủ thực hành phép Bát Quan Trai.

4. Vào năm Nguyên Gia thứ bốn đời Tống: Thượng Thư Bộc xạ Trịnh Tiên Chi, người đất Vinh Dương, Tháp tùng Nhà Vua đi tuần sát kinh thành. Vừa tới nơi, đang đêm liền chết đột ngột.

Ông hiển hiện lời thiêng bảo với mọi người: Thọ mạng của ta đã hết lâu rồi, đáng ra phải chết sớm hơn. Nhờ suốt mấy năm nay, kính tin Phật Pháp, bố thí phóng sinh. Vì công đức ấy nên mới kéo dài thêm được mấy năm.

Than ôi!

Lẽ báo ứng của hai cõi âm dương vốn có ảnh hưởng cùng nhau. Cần phải lìa bỏ thế tục, chuyên tâm phụng thờ Chánh Pháp. Bấy giờ, nhiều kẻ tôn quý cao sang đều nghe những điều ấy. Bốn chuyện linh nghiệm trên đây rút từ Minh Báo Ký.

5. Huề Nhân Thiến là người Hàm Đan ở quận Triệu đời Đường: Thưở nhỏ theo học sách Nho, không tin Quỷ Thần. Thường muốn xem Quỷ Thần có thực hay không, đã đến một người dạy cho thấy quỷ học hơn mười năm, cũng chẳng thấy gì. Về sau dời nhà sang huyện Hướng.

Trên đường đi, gặp một người giống quan lớn, áo mão rất lộng lẫy, cưỡi ngựa tốt, có hơn năm mươi tùy tùng, nhìn Nhân Thiến nhưng chẳng nói gì. Sau đó, vẫn thường gặp người ấy, nhưng thái độ vẫn như thế. Suốt hơn mười năm, cả thảy mấy chục lần.

Sau nữa, bỗng dừng ngựa gọi Nhân Thiến, nói: Thường gặp ông luôn, lòng ta rất hâm mộ. Xin được kết giao cùng ông.

Nhân Thiến liền vái chào, hỏi: Ông là ai thế?

Đáp: Ta chính là quỷ đây. Họ là Thành, tên Cảnh, vốn người ở Hoằng Nông, làm Biệt giá thời Tây Tấn, hiện làm Trưởng Sử ở nước Hồ.

Nhân Thiến hỏi: Nước ấy ở đâu? Nhà Vua tên họ gì?

Đáp: Phía Bắc Hoàng Hà đều là lãnh thổ của nước ấy. Kinh Đô đóng tại phía Tây Bắc Lâu Phiền, là Sa Thích đấy mà. Nhà Vua chính là Vũ Linh Vương của nước Triệu ngày xưa, nay cai trị nước ấy, dưới sự thống lãnh của Thái Sơn. Hằng tháng, Nhà Vua đều sai Thượng tướng về chầu Thái Sơn.

Thế nên, ta thường đi qua nơi đây và cùng ông gặp gỡ. Ta cũng có thể giúp cho ông biết trước tai họa để tránh né, thoát khỏi thiệt hại. Chỉ trừ định mệnh sống chết và báo ứng của họa phước lớn lao thì không thể thay đổi được mà thôi. Nhân Thiến bằng lòng.

Do đó, Thành Cảnh tặng cho một viên tùy tùng là thư ký họ Thường, sai đi theo Nhân Thiến và dặn dò: Có chuyện sắp xảy ra, hãy báo trước cho Nhân Thiến biết. Chuyện gì nhà ngươi không biết nổi, phải đến báo cho ta hay. Liền đó, từ biệt ra đi. Thường thư ký luôn luôn đi theo Nhân Thiến, giống như người hầu. Mỗi khi có chuyện cần tham vấn, chắc chắn đều biết trước.

Bấy giờ, vào đầu niên hiệu Đại Nghiệp, Chi Tượng ở Lăng Sầm lành lệnh doãn tại Hàm Đan. Con là Văn Bản, tuổi còn niên thiếu. Chi Tượng mời Nhân Thiến đến nhà giảng sách cho Văn Bản.

Nhân Thiến đem chuyện này kể cho Văn Bản nghe, rồi nói: Thành Trưởng sử nói với ta, có một chuyện xấu hổ với ông lắm, không thể nói ra được. Nhưng đã chơi thân với ông, không thể không nói cho ông hay. Đường Quỷ Thần cũng có ăn uống thật, nhưng ăn không được no, luôn luôn khổ vì đói. Nếu ăn được một bữa của người, thì sẽ no suốt một năm.

Vì thế, phần đông bọn quỷ đều đi ăn trộm của người. Ta đã có địa vị cao sang, không thể làm chuyện trộm cắp như thế. Xin ông cho một bữa ăn. Khi Nhân Thiến đem chuyện ấy nói với Văn Bản, Văn Bản cho làm cỗ đủ các món ăn ngon quý.

Nhân Thiến nói: Quỷ không muốn vào nhà người, phía ngoài bờ sông, nên giăng màn trải chiếu, bày tiệc dọn rượu lên trên, Văn Bản làm theo lời ấy. Đến ngày, Nhân Thiến thấy Cảnh và khách khứa cùng đến, hơn trăm tùy tùng cũng đã ngồi yên.

Văn Bản đứng lên vái chào, tạ lỗi vì cơm rượu chưa mấy tinh mỹ, đồng thời cũng truyền đạt lòng cảm tạ của Cảnh. Trước đó, khi Văn Bản sắp thết đãi, Nhân Thiến xin sắm vàng lụa để làm quà tặng.

Văn Bản hỏi: Đó là những thứ gì?

Nhân Thiến nói: Vật dụng của quỷ đều khác với người, chỉ có vàng và lụa thì thông dụng như nhau, nhưng tốt nhất là đồ giả. Lấy màu vàng bôi lên thiếc trắng làm vàng, lấy giấy làm bạc là giá trị nhất. Văn Bản theo lời mà sắm sửa. Khi Cảnh đã ăn uống xong, mới cho các tùy tùng ăn uống.

Văn Bản đem tặng các thứ vàng lụa chế tạo, cảnh rất hoan hỷ, cám ơn: Nhân ông Huề nói ra, khiến cậu phải bận lòng sắm sửa mọi thứ.

Cậu muốn biết tuổi thọ không?

Văn Bản từ chối: Không mong biết đến.

Cảnh cười rồi ra đi. Mấy năm sau, Nhân Thiến mắc bệnh, tuy không nặng lắm, nhưng không gượng dậy nổi. Đã hơn một tháng trôi qua, Thiến hỏi Thường thư ký, nhưng Thường không biết, liền hỏi trưởng sử.

Trưởng sử trả lời: Hiện không biết được việc trong cả nước, chờ tháng sau, nhân đi chầu Thái Sơn, hỏi thăm tin tức rồi sẽ báo lại.

Đến tháng sau, trưởng sử báo rằng: Do chính người làng là ông Triệu làm chủ sự ở Thái Sơn, vì còn thiếu một viên, đã tiến cử ông vào chức ấy, nên làm báo cáo trình bày, xin triệu ông. Khi báo cáo làm xong thì sẽ chết.

Nhân Thiến hỏi: Xin đem báo cáo cho xem.

Cảnh nói: Tuổi ông thọ hơn sáu mươi, nay mới bốn mươi, chỉ vì chủ bạ họ Triệu xin trưng dụng ông mà ra nông nỗi này thôi.

Phải xin lại giúp ông mới được.

Rồi nói thêm: Chủ bạ họ Triệu có hỏi thăm, nói anh Huề là bạn học ngày xưa, tình sâu nghĩa nặng. Tôi may mắn được làm chủ bạ ở Thái Sơn. Vừa rồi có thiếu một viên ở đó. Vua Diêm La ra lệnh kiếm người. Tôi đã đem bẩm với Ngài, và được chấp thuận. Anh ấy không thể sống mãi, chắc chắn phải chết. Chết đi, dù có cơ may, chưa chắc đã được làm quan.

Tiếc chi một vài mươi năm kéo dài cuộc sống tạm bợ?

Nay văn thư đã ban hành, không thể chậm lại. Mong anh ấy quyết định ý hướng đến đây, đừng nên chần chờ gì nữa. Nhân Thiến lo sợ, bệnh càng nặng thêm.

Cảnh bảo Thiến rằng: Chủ bạ họ Triệu chắc chắn muốn mời ông đến. Ông có thể thân hành lên Thái Sơn, đến trước Vua Diêm La kêu cầu, may ra có thể thoát được.

Thiến hỏi: Làm sao có thể ra mắt Vua Diêm La?

Cảnh bảo: Chỉ loài quỷ mới có thể gặp được mà thôi. Đến Miếu Thái Sơn, vượt qua một dãy núi nhỏ về phía Đông, đến chỗ đất bằng, đó là Kinh Đô của Ngài. Ông tự mình đến ra mắt Ngài đi. Thiến đem báo cho Văn Bản, Văn Bản sửa soạn giúp hành trang.

Được mấy hôm, cảnh lại báo với thiến: Văn thư sắp xong rồi, sợ ông kêu cầu cũng không thoát khỏi. Hãy mau mau làm một Tượng Phật, văn thư ấy tự nhiên sẽ tiêu tan.

Thiếu báo cho Văn Bản, rồi đem ba nghìn tiền mướn vẽ một Tượng Phật lên vách phía Tây nhà Chùa, vừa xong, Cảnh lại đến báo: Thoát rồi.

Thật tình, Thiến không tin Phật.

Trong lòng vẫn còn hồ nghi, nên hỏi cảnh rằng: Phật Pháp nói có nhân quả ba đời, điều này hư thật ra sao?

Cảnh trả lời: Đều thật cả.

Thiến lại hỏi: Đã như thế, thì người chết sao phải phân chia sáu đường, lẽ nào tất cả đều làm quỷ?

Tại sao Vũ Linh Vương và ông đến nay vẫn còn làm quỷ?

Cảnh hỏi: Trong huyện của ông có bao nhiêu nhà?

Thiến đáp: Hơn vạn nhà.

Lại hỏi: Trong ngục có bao nhiêu tù?

Thiến đáp: Bình thường, dưới hai mươi đứa.

Lại hỏi tiếp: Trong vạn nhà ấy, có bao nhiêu người làm quan ngũ phẩm?

Thiến đáp: Không có ai cả.

Lại hỏi nữa: Từ Cửu Phẩm trở lên.

Có bao nhiêu người làm quan?

Thiến đáp: Vài chục người.

Cảnh nói: Ý nghĩa của sự phân chia vào trong sáu đường cũng như thế mà thôi. Được sinh lên đường Trời, vạn người chưa có được một, giống như trong huyện của ông không có ai được làm quan ngũ phẩm. Được sinh vào đường người, vạn người có được vài ba, giống như trong huyện của ông có vài chục người làm quan Cửu Phẩm.

Đọa vào Địa Ngục, vạn người cũng có mấy chục, giống như số tù nhân trong nhà ngục của huyện ông. Chỉ có Ngạ Quỷ và Súc Sinh là nhiều nhất, giống như số nhà phải chịu thuế má phu phen trong huyện của ông.

Ngay trong đường này cũng có thứ bậc.

Nhân đó, Cảnh chỉ vào kẻ tùy tùng rồi nói: Người ấy hoàn toàn không giống như ta. Những kẻ không bằng người ấy, lại càng nhiều hơn nữa.

Thiến hỏi: Quỷ có chết không?

Trả lời: Có chứ.

Thiến hỏi: Chết xong sẽ sinh vào đường nào?

Trả lời: Không biết. Giống như người chỉ biết chuyện sống mà không biết chuyện sau khi chết xong.

Thiến hỏi: Đạo gia đặt ra sớ chương cúng vái, liệu có cầu khẩn thêm được gì không?

Cảnh đáp: Đạo gia chủ trương Thiên đế quản lảnh khắp cả sáu đường, gọi đó là Thiên tào. Vua Diêm La giống như Thiên Tử của thế gian. Chúa của Thái Sơn giống như Tể Tướng. Những vị thần coi năm đường giống như các Thượng Thư. Còn nước của bọn ta giống như châu, quận lớn.

Mỗi khi nhân gian có chuyện cầu xin, gọi là dâng chương sớ. Như chuyện cầu phước, cũng giống cầu thần ban cho ơn phước. Thiên tào nhận lấy, giao xuống cho Diêm La, bảo ngày tháng đó, có người đó kêu cầu chuyện đó.

Cần xem xét tận tình, đừng để oan uổng, lạm phép. Vua Diêm La nhận lấy và tuân hành theo, giống như người ta tuân theo chiếu chỉ. Chuyện phi lý, không thể cầu khẩn van nài.

Có oan uổng, chắc chắn được làm sáng tỏ. Làm gì có chuyện cầu khẩn thêm được.

Thiến còn hỏi: Nhà Phật tu phước thì thế nào?

Cảnh đáp: Phật là bậc Đại Thánh. Không có văn thư sai khiến xuống dưới. Hễ ai tu phước thì sẽ được Thiên Thần kính nể. Phần đông đều được hưởng khoan hồng. Như người nào phúc hậu, dẫu có tên trong sổ bộ của bên đường ác, cũng không được phép bắt bớ.

Đó là điều ta không biết và cũng không hiểu tại sao lại như thế. Cảnh nói xong, liền ra đi. Một vài ngày sau, Thiến có thể ngồi dậy nổi và lành bệnh hẳn.

Sau khi Văn Bản mất cha, liền trở về quê.

Thiến gửi thư nói: Quỷ Thần thật giỏi tham lam ton hót. Ngày trước, muốn cậu cho ăn uống, nên rất thân thiết ân cần. Khi biết không còn lợi dụng được nữa, liền tỏ ra rất lạnh nhạt xa lạ. Tuy thế, Thường thư ký vẫn còn họp mặt. Vừa qua huyện nhà bị giặc vây, số người chết chóc, thất tán gần hết. Ta nhờ Thường thư ký báo trước, nên cũng bình tâm. Giặc không bắt gặp, nên vẫn được an toàn.

Ngày mồng tám tháng chín năm Trinh Quan thứ mười sáu, các văn thần được Nhà Vua ban cho tập bắn ở cửa Huyền Vũ.

Bấy giờ, Văn Bản làm Trung thư thị lang, cùng đi với anh ruột làm Thái thường khanh và Thị thư thị ngự sử Mã Châu, Cấp sự trung Vi Côn. Khi ngồi vào chỗ với nhau, Văn Bản tự mình đem kể với các đồng liêu nghe như thế. Chuyện trên đây rút từ Minh Báo Ký.

6. Thuật rõ nhiều loại Quỷ Thần trong nhân gian: Các huyện vùng núi ở Lâm Xuyên có yêu quái đến ở, thường nhân mưa gió lớn, cất tiếng kêu lên như hú, biết bắn người. Vết thương như bị móng thú cào cấu, đầu sưng nặng nề. Độc nhất là thứ trống, mái. Trống thì nhanh, mái thì chậm.

Nhanh thì không quá nữa ngày. Chậm thì không qua khỏi đêm. Lên rừng cần có người đi theo, thường để cứu chữa. Nếu chữa chạy ít bớt thì phải chết. Tục gọi là quỷ lao đao.

Thế nên sách dân gian nói: Quỷ Thần là kẻ chứng nghiệm của sự phát huy họa phúc đối với nhân thế.

Lão Tử nói: Xưa được một, nghĩa là Trời được một để trong. Đất được một để yên. Thần được một để linh. Hang được một để đầy. Vương hầu được một để làm lành cho thiên hạ.

Thế thì, Trời Đất Quỷ Thần đều là những chủ thể sống chung với ta vậy. Vì khí phân hóa, nên tính khác nhau. Đứng riêng biệt nên hình lạ hoắc. Chẳng có gì được lưỡng toàn cả. Sống thì nặng nề về dương.

Chết thì nặng nề về âm. Là chỗ nương náu của tính. Mỗi cái đều được yên nơi. Trong cõi thái âm có quái vật sinh tồn. Hai chuyện nhỏ trên đây rút từ Sưu Thần Ký.

Sách Hàn Thi Ngoại Truyện nói: Chết làm quỷ. Quỷ là quay về. Tinh khí quay về với Trời. Thịt quay về với đất. Huyết quay về với nước. Mạch quay về với đầm. Tiếng quay về với sấm. Cử động quay về với gió. Mắt quay về với Mặt Trời Mặt Trăng. Xương quay về với cây. Gân quay về với núi. Răng quay về với đá. Mỡ quay về với móc sương. Móc sương quay về với cỏ. Hơi thở lại quay về với con người.

Sách Lễ Ký Tế Nghĩa chép: Tể Ngã nói, con nghe tên của Quỷ Thần, nhưng không biết được ý nghĩa.

Khổng Tử bảo rằng: Khí là sự hưng thịnh của Quỷ Thần. Phách là sự hưng thịnh của Quỷ. Tổng hợp cả Quỷ và Thần là mục đích của giáo hóa vậy.

Theo sách Thập Lục Quốc Xuân Thu Tiền Lương Lục của Thôi Hồng nói: Trương Khuynh là con nhà họ Mã ở An Định. Trước đây, khi Trương Khuynh giết Cúc Kiệm. Cúc Kiệm buông lời oán hận. Thế rồi, dưới ánh Trăng sáng thấy con chó bạch xuất hiện. Trương Khuynh rút kiếm chém lấy, bị té nhào xuống, không gượng dậy nổi. Kẻ hầu cận thấy Cúc Kiệm đứng ngay bên cạnh. Trương Khuynh chết ngay.

Theo Kinh Thần Dị nói: Phía Đông Bắc có thạch thất của chằn tinh, gồm có ba mươi hộ ở chung. Bia đá dựng kề bên đề rằng cửa quỷ. Suốt ngày không đóng cửa. Đến chiều tối có tiếng người nói, có ánh lửa xanh lóe lên. Bốn chuyện linh nghiệm trên đây rút ra từ sách Thái Bình Ngự Lãm.

Thưở còn nhỏ, Tống Định Bá ở Nam Dương đi đêm gặp quỷ.

Hỏi: Ai đó?

Đáp: Quỷ đây.

Bỗng quỷ hỏi lại: Ông là ai thế?

Định Bá gạt nó, trả lời: Ta cũng là quỷ.

Quỷ hỏi: Đang đi đâu?

Đáp rằng: Đang đến chợ Uyển.

Rồi đi được mấy dặm, quỷ nói: Đi bộ thế này chậm quá, nên cùng thay phiên cõng nhau.

Định Bá nói: Hay tuyệt.

Quỷ bèn cõng Định Bá trước, đi được mấy dặm, quỷ nói: Ông nặng quá.

Hay không phải là quỷ?

Định Bá trả lời: Vì ta mới chết nên thân còn nặng. Nhân đó, Định Bá thay phiên cõng lại quỷ. Quỷ hầu Hư Không nặng chút nào. Cứ thế, cùng thay phiên cõng nhau đến ba lượt.

Định Bá lại nói: Ta mới chết, nên không biết rõ quỷ sợ cái gì?

Quỷ đáp: Chỉ không thích người ta nhổ vào mình thôi. Rồi cõng nhau đi tiếp. Giữa đường gặp sông, Định Bá bảo quỷ lội trước. Quỷ nghe lời, tuyệt đối không có tiếng động. Định Bá tự lội, tiếng động bì bõm.

Quỷ lại hỏi: Tại sao lội có tiếng động?

Định Bá trả lời: Mới chết, không quen lội nước, nên phải như thế. Đừng lấy làm lạ về ta nữa. Đi sắp đến chợ Uyển, Định Bá liền cõng quỷ, túm lấy trên đầu, giữ thật chặt. Quỷ kêu ré lên thành tiếng lớn đòi xuống. Định Bá không nghe lời, cứ đi thẳng một mạch đến chợ Uyển. Bỏ quỷ xuống đất, nó liền hóa thành một con dê. Định Bá đem ra bán. Sợ nó biến hình, liền nhổ vào nó.

Định Bá bán được một ngàn năm trăm tiền rồi bỏ đi.

Thời bấy giờ, Thạch Sùng nói: Định Bá bán quỷ được một ngàn năm trăm tiền. Chuyện linh nghiệm trên đây rút ra từ Liệt Dị Truyện.

Sách Triệu Thái Truyện nói: Thái từng lặng lẽ mà chết. Có hai người sứ giả dắt đi về phía Tây, vào trong tòa chính điện, gồm có ba lớp cửa màu đen, chu vi rộng mấy chục dặm, nóc cao lợp ngói.

Hôm đó, cũng có người cùng chết, nam nữ đến năm, sáu nghìn người, tất cả đều chờ ngoài cửa. Có viên thư ký mặc áo đơn trắng, cầm bút điểm danh.

Nam nữ chép riêng thành hai hàng trái phải.

Bảo rằng: Đừng nhúc nhích, ta phải dẫn các ngươi vào trình với Chúa Thái Sơn. Sổ bộ nằm trong quyển thứ hai mươi. Giây lát đã đến nơi. Chúa ngồi quay mặt về phía Tây, hai bên có thị vệ cầm đao đứng hầu. Hai hàng nam nữ đến đó, nghe kêu tên, lần lượt từng người một bước vào chỗ Chúa.

Căn cứ vào tội trạng nặng nhẹ, Chúa xét xử cho vào ngục.

Xét Bảo Phác Tử nói: Theo các sách Cửu Đỉnh Ký và Thanh Linh Kinh Đều cho rằng người và vật chết đi, đều có quỷ cả.

Đời Ngụy, khi Tôn Ân làm loạn, đất Ngô Hưng đều rối beng. Có một gã đàn ông trốn loạn, đột nhập vào Miếu thờ Tưởng hầu. Mới bước vào cửa, tượng gỗ đã giương cung bắn gã chết tươi. Người qua đường và thủ từ, ai cũng trông thấy rõ ràng. Chuyện linh nghiệm trên đây rút ra từ U Minh Lục.

***

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter