Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Kinh Điển


...... ... .

 

 

  

Bát Nhã Ba La Mật Đa
Tâm Kinh Nghĩa Mầu

Do ngài Khuy Cơ dịch
từ tiếng Phạn sang tiếng Hoa

Đại chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
Quyển 33, số 1710 (250)
Từ trang 523 đến trang 542

Sa môn Thích Bảo Lạc
 dịch tiếng Hoa sang tiếng Việt
Đời thủ tướng John Howard
Tại tự viện Pháp Bảo – Sydney – Úc Đại Lợi

 

 

TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÁN

2 quyển

Ngài Khuy Cơ tuyển dịch

 Quyển nhất

 

Vì chúng sanh bị chướng buộc che ngăn, tin theo tà pháp, bài báng Đại thừa. Đối với pháp Hữu – Vô trãi qua nếu kể sự trói buộc tùy dấu ấn mà biết nên được sanh ra đời là điều hy hữu. Giá như may được sanh làm người là nhờ thân cận bạn lành, vì mỗi người lầm một cách nên làm cho lời dạy rối rắm, e biển học sâu thẳm ban sơ không có ý hướng tầm cầu, dù thích kinh điển mà không hiểu được. Nơi tục đế chấp pháp hữu-vô, tâm-cảnh mới sanh tâm thủ-xả, làm cho nghĩa của pháp thành có đúng sai. Người tin học pháp đều được lợi lạc, y lời dạy nơi pháp trung đạo, như Kinh Giải Thâm Mật thuyết. Theo tánh giả lập (biến kế sở chấp) cho hay mọi pháp không có tự tánh, không sanh diệt, tánh bản lai vắng lặng tùy ba không tánh theo thắng nghĩa. Lúc đó Bồ Tát Thắng Nghĩa hỏi Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn, ban đầu Phật chỉ nhắm tới Thanh Văn nên nói pháp Tứ đế, tuy rất hiếm nhưng chưa ai hiểu rõ được nghĩa lý, do đó mới có những sự tranh luận diễn ra khắp nơi. Sau Phật vì ý đó nhắm tới Đại Thừa khai diễn pháp ẩn mật và nói các pháp đều không có tự tánh, không sanh, không diệt, bản lai vắng lặng. Tuy pháp rất hiếm có nhưng do chưa hiểu nghĩa nên nảy ra những sự tranh biện. Nay vì người phát tâm hướng đến Phật thừa mà Phật chuyển nói pháp vô thượng chí cực, là pháp thắng nghĩa trong pháp rốt ráo, không còn chỗ nào tranh luận nữa.

Kinh Kim Quang Minh đề cập ba pháp ấy bằng ba từ là chuyển – chiếu – trì; chuyển là phá dẹp sạch hết danh biểu hiện. Do chúng sanh mê chấp thật tướng các pháp tạo nghiệp sai lầm nên trôi lăn trong biển sanh tử. Phật, bậc đại thánh pháp vương ngộ tự tánh các pháp khéo dùng phương tiện thích hợp căn cơ mỗi người lìa ngôn từ; Phật thể nghiệm thuyết minh rõ muốn cho chúng sanh hiểu được thật tướng trung đạo như bài kệ:

Chư Phật hoặc nói ngã

Tùy lúc bảo vô ngã

Đối thật tướng các pháp

Không ngã, không phi ngã.

Ngoài ra, các kinh cũng nói: Phật dùng một âm diễn nói vô số nghĩa, chúng sanh tùy loài nghe đều hiểu rõ. Cũng như nhạc trời hợp với tâm niệm mà phát ra tiếng, hay như hoa mạt lợi chờ trời mưa vậy. Cũng như thế, Phật tuy nói vô số pháp môn, nhưng chỗ nhận hiểu thuần một không trái nhau. Sau khi đức Phật nhập diệt, vì muốn giáo pháp phân bố lợi lạc khắp trời người nên đầu tiên kết tập thành như bài kệ rằng:

Nên xét lời Phật dạy

Y thánh đế trình bày

Như đãi cát tìm vàng

Chọn lọc loại tinh ròng

Các bậc Thánh, Long Mãnh (Long Thọ) v.v… trừ chấp hữu ngộ rõ chân lý đạt tới không tông, như có bài tụng rằng:

Chân tánh có như không

Giả duyên kết hợp rỗng

Vô vi không thật hữu

Không thấy tợ hoa không.

Ngài cho rằng thế gian chấp các pháp là có, theo như Thắng Nghĩa đế tất cả pháp đều không. Tuy không đây là tánh chân không chứ không phải không có, dựa vào thắng nghĩa theo lý đều là tánh không, chúng sanh do đấy nẩy sinh thấy rỗng không. Bồ Tát Vô Trước thỉnh cầu đức Thế Tôn dạy nghĩa trung đạo để trừ bỏ hai lối chấp nên nói bài kệ:

Hư vọng phân biệt có

Trong đó cả hai không

Chỉ có không ở trong

Bên nào cũng khó thông

Nên cho tất cả pháp

Không không cũng chẳng không

Hữu-Vô đều có cả

Cùng trung đạo hiệp đồng.

Phật dạy, thế gian cho ngã-pháp là có, y theo thắng nghĩa đế, cả hai pháp đều không, tuy Phật phá chấp không chấp hữu, vẫn thuyết tướng chung các pháp có-không. Như nói rằng các pháp chẳng không chẳng có, nhưng trên danh nghĩa tự tánh vốn lìa không-hữu cả hai đều không, còn thắng nghĩa truyền pháp hữu-vô ắt có. Phật dạy hữu vi, vô vi gọi là có; Ngã và những cái thuộc về ngã gọi là vô vi; Ngài không nói pháp hữu – vô là không. Xem thế đủ rõ ý Phật với pháp hữu-vô không hề mâu thuẫn nhau. Pháp ngoài trí xét nét có-không thế nào. Theo trình độ, căn bịnh giả (mượn) nói hữu-vô mà về sau người học Phật theo văn khởi chấp. Những gì đã giải hợp trung đạo; còn cái biết của thế gian là hiểu sai lầm. Giờ đây đem nghĩa kinh soi rõ hai bên. Lý sâu nhiệm phi kẻ trí hiểu rõ. Bát Nhã Ba La Mật Đa là gọi chung một bộ kinh quan trọng (vĩ đại theo tầm vóc). Riêng về Tâm Kinh, chữ Kinh đây là lối nói riêng là kinh cốt lõi (kinh ruột) tuệ giác. Tammasa giải thích lấy tên người làm danh, Tô Mạn Đa âm thanh thuộc chủ làm đề mục. Tuy nhiên ở đây Tâm Kinh cũng gọi là Bát Nhã. Một đàng gọi chung, một bên gọi riêng nên là Tâm; Bát Nhã nghĩa là tuệ giác. Theo cựu dịch Bát Nhã có ba nghĩa: 1) Thật tướng là chân lý 2) Quán chiếu là chân tuệ 3) Văn tự là chân giáo. Nay giải thích thêm có năm nghĩa 4) Quyến thuộc là vạn hạnh và 5) Cảnh giới là vạn pháp. Tu tập đầy đủ hai phần phước và trí là thông tỏ hữu – vô, tìm xét kỹ nghĩa lý phát chiếu tuệ tánh, tuệ tư gọi là Bát Nhã để trừ sạch các thói nhiễm ngộ tỏ chân lý. Lấy các đức tánh tốt làm đầu, vạn hạnh dẫn đạo, dù chỉ gọi tuệ song bao hàm hết mọi pháp. Ba La có nghĩa là bờ bên kia (bờ giải thoát) mà theo như lối cổ có hai nghĩa là Bồ Đề, Niết Bàn. Hiểu theo bây giờ bỉ ngạn có năm nghĩa: a) chỗ cần biết b) giáo c) lý d) hạnh e) quả; Mật Đa có nghĩa là lìa hay đạt đến. Do thực hành Bát Nhã mà lìa các chướng nhiễm; cảnh dứt hữu vô rõ thông sáu thức; nghĩa dung chân – tục đầy đủ hai nhân; giác ngộ viên mãn tròn đầy lên bờ giải thoát. Thể dụng nêu cùng lúc nên có tên kinh, song chỗ tu tập phải đầy đủ 7 pháp tối thượng mới có thể đạt được ba la mật đa. Bảy pháp đó là: 1) Vững tu Bồ Tát hạnh 2) Nương theo đại Bồ Đề tâm 3) Thương xót chúng sanh 4) Sự nghiệp tu hành đầy đủ 5) Nhiếp giữ trí vô tướng 6) Hồi hướng đạo Bồ Đề 7) Không bị hai chướng xen tạp. Như tu tập Bát Nhã đạt được mọi nghiệp lành (thiện nghiệp) dưới cái nhìn Bát Nhã mở rộng này một lần chẳng thể đạt đến giải thoát. Kiếp thứ nhất mới đến giải thoát, kiếp thứ nhì là kiếp cận giải thoát, kiếp thứ ba đạt đại giải thoát hay cũng gọi là quả vị Phật. Ở đây nói tổng quát nhân quả gồm chung mà tâm hẳn vô cùng tinh vi nên lấy đó đặt tên bộ kinh quan trọng này; tùy theo nghĩa sâu rộng để hành trì tu tập hay e dè lui sụt thoái tâm. Chư thánh hiền truyền pháp ghi rõ sự thật tối thượng nên nói kinh này. Phần nhiều lời tựa hẳn thiếu nhiều điểm tinh tế chỉ lược nêu chỗ cốt tủy mà không hàm vạn tượng bao la sắc tức là không. Đạo bao nhiếp nhiều pháp môn phải quán rõ đến vô trí mới hội thông được. Thông đạt lý thú sâu rộng nêu rõ nguồn tâm lấy đó đặt tên kinh. Kinh là sự kết hợp lời Phật dạy đạo lý bàng bạc, dứt trừ mê làm mực thước cho chúng sanh, là muốn khiến cho chứng nghiệm hoặc nương theo nên nói bát nhã đích thực Phật mới thuyết Kinh này, lấy tâm làm đề mục, như các luận Du Già, Thủy Lục Hoa, Kinh Thập Địa v.v…

Quán Tự Tại Bồ Tát: là người thắng không. Yù chính kinh Bát Nhã có hai phần: 1) Nói Quán Tự Tại để phá hai lối chấp, hiển lộ hai không 2) Giác hữu tình hay Bồ Đề Tát Đỏa là tán thán hai pháp y đạt hai lợi ích. Đại Kinh nói:

Phật bảo: này Xá Lợi Tử khi đại Bồ Tát thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa nên quán xét như thế này: chân thật Bồ Tát không thấy có Bồ Tát, không thấy danh Bồ Tát. Bồ Tát tự tánh không, Bồ Tát danh không nên nay nêu rõ nghĩa khiến Bồ Tát không thấy có Bồ Tát để phá chỗ chấp và nói pháp không. Nếu phải nói như vầy: Kinh Bát Nhã nói chung có ba phần: 1) Quán Tự Tại là bậc thượng nhân tu hành khuyên bảo người phát tâm 2) Xá Lợi Tử nêu rõ người có căn cơ cảm nhận xứng đáng thuật lý trùm cả thí dụ 3) Bồ Đề Tát Đỏa phản ảnh nương đức hạnh của việc học mà rõ thêm đạt đến thành tựu. Hay nói cách khác, trước nhất là tôi luyện, thứ đến dứt trừ bốn niệm xứ và sau hết lìa khổ chứng chân. Tôi luyện có ba phần: Bồ Tát hơn ai hết là người tu hành rồi khuyến tấn người khác phát tâm, đó là pháp thứ nhất. Như nghe nói hạnh Bồ Đề rộng lớn sâu xa mà sanh niệm thoái thác nên phải rèn luyện tâm. Như Ngài Quán Tự Tại xưa kia khi mới phát tâm cũng với bao nhiêu phiền não vô minh vây buộc rồi mới phát tâm dũng mãnh, xả bỏ thân mệnh, của cải cầu đạt Phật trí, nhờ nung đúc phát khởi hùng lực mới thành Phật. Ta cũng phải làm như vậy nên khuyến tấn mình nỗ lực tu tập, không nên tự khinh mà sanh tâm lui sụt. Quán có nghĩa là xét để bổ sung cho trí và bi; Tự Tại nghĩa là không ngưng trệ, cứu giúp bằng cách khéo léo làm cho chúng sanh thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý). Hẳn đạt được mong cầu sáu phép thần thông rộng đường giáo hóa, không bị lỗi lầm, nguy khốn, bay đi tự tại như chỗ không người. Kết bạn thân thiết không cần mời gọi, làm thầy ứng bịnh cho thuốc, làm lợi lạc vô số không nghĩ bàn gọi là Quán Tự Tại. Ngoài ra, chữ Quán còn có nghĩa chiếu soi, hiểu rõ cái tuệ Không; Tự Tại nghĩa là tự do vô giới hạn, chỗ đạt được là kết quả hơn hết. Do trước thực hành pháp tu lục độ mà nay được kết quả tròn đầy, dùng tuệ làm pháp quán trước hết đạt được 10 pháp tự tại như:

1. Mạng sống tự tại có nghĩa thân mạng diên trì lâu dài

2. Tâm tự tại là không bị dấy nhiễm trong sanh tử

3. Của cải tự tại theo ý có ngay, do bố thí mà cảm nên

4. Nghiệp tự tại tức là chuyên làm việc thiện và khuyên người khác làm

5. Sanh tự tại theo ý muốn ra đi, nhờ giữ giới mà được

6. Thắng giải tự tại, tùy ý muốn trọn thành, do nhẫn mà có

7. Nguyện (mong ước) tự tại, quán sát được niềm vui do tinh tấn

8. Thần lực tự tại, có thể phi thân dễ dàng, do định lực được

9. Trí tự tại theo ngôn từ phát huệ

10. Pháp tự tại hợp với khế kinh, nhờ huệ mà được.

Bồ Tát Quán Tự Tại quán chiếu thấy không tối không sáng, ở bực bổ xứ mà thành Đẳng Giác; nếu nói Quán Âm chỉ theo ý nghĩa của lời nói đều thiếu sót. Bồ Đề Tát Đỏa nói gọn là Bồ Tát. Bồ Đề là tuệ giác, tát đỏa là phương tiện. Cả hai nghĩa đều có khả năng làm tất cả những việc lợi ích chúng sanh. Lại nữa, Bồ Đề cũng có nghĩa là giác, do trí mong đạt quả, tát đỏa còn có nghĩa là hữu tình, nhờ bi nguyện độ sanh, do phát thệ rộng lớn nên gọi là Bồ Tát. Và Tát Đỏa cũng còn mang ý nghĩa là dõng mãnh; tinh tấn cầu đại Bồ Đề dõng mãnh nên gọi là Bồ Tát. Nói cách khác, người tu hành là dũng mãnh tức giác hữu tình mong đạt ba tuệ giác gọi là Bồ Tát, có đủ bi trí cùng tâm thương xót chúng sanh, làm hưng hiển đạo pháp, cứu khổ trừ nguy tịnh hóa chùa am, cơ cảm hợp nhau nên tiêu biểu như vậy. Hoặc đặt ở vị trí cao hơn do đại tâm diệu huệ thành tựu là Quán Tự Tại. Hoặc chỉ rõ điều này khiến nhìn kỹ là Quán, không phải từ Tây phương dạo qua đây như kinh Đại Bát Nhã phân biệt rõ, cho nên Kinh nói rằng hành thâm bát nhã ba la mật đa là như vậy.

Lời tán dương thắng không là nói từ thấp phá pháp chấp rồi mới nói pháp không. Đại Kinh nói rằng, không thấy Bát Nhã Ba La Mật Đa cũng không thấy danh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Vì tự tánh Bát Nhã là không, Bát Nhã không nên ứng hợp như lời nói rõ ràng do học mà phát huệ mới soi sáng tánh không, biểu hiện trước hết là pháp tu.

Thứ hai tôi luyện tâm, như thấy Bồ Tát tu vạn hạnh khó thực hành mà sanh ra thoái chí nên cần phải rèn luyện tâm. Ta từ vô thỉ tới nay vì ham vui theo đời nên chưa chuẩn bị đón nhận nghĩa Không, mọi sự khổ huống nữa cầu Bồ Đề mong ra khỏi sanh tử cứu độ chúng sanh mà còn mang tâm khiếp sợ ư ? Muốn hiểu sâu Bát Nhã, Bồ Tát cần phải tu học, ta cũng phải như vậy. Có nghĩa phải phản tĩnh tự thân tấn tu mà không nên thoái chí. Ngài Xá Lợi Phất trước đây phát tâm vĩ đại vì bố thí mắt nên muốn cầu quả Thanh Văn, lo sợ ngày nay thoái tâm nên khuyên nhắc phải luyện tâm. Như nói hành thắng không đó là nương vào thế gian. Còn muốn chứng xuất thế trí vô phân biệt không quán ngược với Không nên cần học để phân biệt những chỗ bị duyên bằng Văn-Tư-Tu; tập soi tỏ Không gọi là hành. Nếu nương thắng nghĩa do Không chỗ đắc, vô phân biệt nên đều không chỗ hành, đó gọi là hành. Kinh Vô Cấu Xưng ghi rằng, không hành là Bồ Tát không nhớ niệm. Đại Kinh cũng nói, không thấy hành chẳng thấy không hành là tự tánh Không.

Nay nói hành không có chỗ hành mới gọi là hành mà không phải hành. Hơn nữa theo nghĩa ẩn không chỗ hành cũng không chỗ chẳng hành, ấy chính là hành. Nếu còn chỗ hành hay chỗ chẳng hành không phải là hành. Cũng còn một lối giải thích khác như động niệm lăn xăn (tâm phan duyên) sanh tử vốn không phải là hành; chuyên tâm dứt nghĩ tưởng là xuất thế mới đúng thật gọi là hành. Như nói đúng chính xác, chẳng hạn nhà ảo thuật là có hành, dù không thật nhưng chẳng phải không giống thật, phải có đủ các duyên nghe, tin, học, thực nghiệm, thuyết minh chưa từng bỏ, song ta cũng khó phân biệt được, vì không thấy rõ hành tướng nhưng vẫn gọi đó là hành mà chẳng phải hoàn toàn vô hành. Giả sử đem con bịnh bảo ta trị chắc không thể trị hết được, nếu vốn ta không có phương pháp chữa bịnh hẳn khó trừ dứt bịnh. Như người ngu tự xưng giác ngộ đem tuyên bố là tự mình làm hại mình, như cái lọng hoa thể nó không thể trị liệu, vì đã không thật làm thế nào trị lành được bệnh ? Cây lọng không thật - lúc đầu do hoa mắt không nhận ra đúng, thắng nghĩa đế do đây soi chiếu thể không hoa. Như không chỗ hành không chỗ chẳng hành là do chúng sanh vô minh không sáng suốt. Từ vô thỉ tất cả đều sáng suốt rồi thoạt dấy khởi niệm vô minh cho đến nay chưa ai từng được minh. Đem sánh chỗ đồng chỗ dị đạo có cùng khắp, trái lý nghịch tông sao đạt tuệ giác ? Nếu dứt nghĩ lăn xăn tức hành đúng pháp, hợp định vô tưởng đều thành thánh đạo. Không vin chỗ hành trì xả thủ mới nhanh chóng tư duy trừ dứt sai lầm được. Nay đề cập tới hành, dù hành mà không thấy hành ấy chẳng phải là không hành. Vì thế, kinh này nói chẳng thấy hành cũng chẳng thấy không hành. Mượn chỗ hành song kỳ thật là vô hành, chẳng những vậy mà phải nói chẳng thấy hành. Ấy vậy nên nêu hỏi: chẳng thấy không hành làm sao đủ lý lẽ rõ ràng ? Vì thế phần sau sẽ thuyết minh rõ. Phật quả là tối diệu thù thắng vô cùng, nếu chẳng phải tu chứng sâu không do đâu chứng đắc. Do vậy, theo nghĩa ở đây nói có thực hành mà điều quan trọng nơi Đại Thừa có hai loại chủng tánh đó là: 1) Bổn tánh trong chủng tánh, có nghĩa nơi bổn thức phát sanh công năng bản tánh vô lậu (không còn phiền não). 2) Do huân tập thành chủng tánh có nghĩa là nghe chánh pháp vân vân rồi huân sâu nơi tiềm thức mà thành.

Làm sao biết bản tánh nơi chủng tánh nhờ tu tập mà đạt đại Bồ Đề ? Như tánh thích bố thí, ưa khen khuyên người khác làm thiện hợp thời mà nói, bị người trách cứ không cuồng nộ, không tỏ thái độ kỳ cục, sống trên châu báu không tham đắm. Nếu người thực hành tâm nhu nhuyến hẳn ác nghiệp không làm tổn hại người khác; có tạo điều ác nhanh chóng sửa sai thường có lòng thương giúp, biết tri ân báo ân. Phàm có việc mong cầu không làm điều phi pháp, ham tu phước, biết sợ tội; thấy nghe, chịu khổ do tự thân, thấy việc thiện ưa làm, việc ác cần xa lánh. Đối với kẻ cầm cương thường không nói lời đay nghiến, với kẻ đức độ luôn sanh lòng ngưỡng mộ. Nếu bị người làm hại không có tâm báo thù, người đến tạ lỗi nhanh chóng tiếp nhận mà không kết hận, không nhớ cựu thù. Nếu có tánh cao ngạo cần sớm dậy tối nghỉ, gặp việc cương quyết thích làm cho xong. Thấy đại nghĩa không nản lòng cũng không tự coi rẽ mình. Đối với giáo pháp phải thẩm xét tư duy, ham thích nơi vắng lặng, yêu mến hạnh xuất thế. Làm việc gì không quên đối với oán có lòng từ mẫn, như có trí thông minh việc học dễ thành tựu. Xa lánh việc ác nhờ gia tâm suy tư chọn lọc nên không khởi phiền não trói buộc tạo nghiệp không ngừng, làm dứt mất thiện căn. Giả thử sanh ở cõi ác có thể mau thoát ra và cũng chẳng thọ thống khổ bứt ngặt, dù chịu ít khổ phải phát tâm hơn lên để đè bẹp, thấy khổ chúng sanh sanh lòng thương xót. Như chứng kiến cảnh này nên thi ân cứu giúp, những phiền não chướng vi tế, thô phù câu thúc, phải biết ứng dụng tuệ giác Bồ Đề. Song nếu chưa gặp được bậc thiện hữu tri thức nói về tuệ giác hay dù gặp được mà điên đảo, cố chấp vẫn còn, do thiện căn chưa thuần thục nên còn trong vòng sanh tử. Nếu ở năm vị tu tập những việc thiện gieo nhân lành hẳn đạt được kết quả. Năm vị đó là gì? Đó là:

1. Tư lương vị: từ sơ phát tâm tới khi đạt đến giác ngộ trải qua tu bốn pháp tầm tư quán 40 trụ tâm đều nằm ở tư lương vị này A - Thập tín có mười tâm như: 1. Tín 2. Tinh tấn 3. Niệm 4. Huệ 5. Định 6. Thí hay cũng gọi là bất thoái 7. Giới 8. Hộ 9. Nguyện 10. Hồi hướng.   B - Thập trụ gồm: 1. Phát tâm 2. Trị địa 3. Tu hành 4. Sanh quí 5. Phương tiện 6. Chánh tâm 7. Bất thoái 8. Đồng chơn 9. Pháp vương tử 10. Quán đảnh. C - Thập hạnh: 1. Hoan hỷ 2. Nhiêu ích 3. Vô nhuế 4. Vô tận 5. Ly si 6. Thiện hiện 7. Vô trước 8. Tôn trọng 9. Thiện pháp 10. Chân thật D. Thập hồi hướng: 1. Cứu hộ chúng sanh 2. Bất hoại 3. So sánh đồng chư Phật 4. Đến hết thảy xứ 5. Công đức vô tận tạng 6. Tùy thuận thiện căn bình đẳng 7. Tùy thuận quán chúng sanh như nhau 8. Như tướng 9. Không bám không chấp 10. Pháp giới vô lượng.

2. Gia hạnh vị: Từ sau vị tư lương còn bốn pháp đẳng  tri (định) như: 1. Đạt định sáng 2. Minh tăng định 3. Aán thuận định 4. Vô gián định (định không xen hở gián đoạn).

3. Thông đạt vị: từ sau bốn pháp định là sơ địa, sơ tâm, chân tướng, kiến đạo.

4. Tu tập vị: từ sau kiến đạo đến Kim Cang định, thập địa, tu đạo. Thập địa như sau: 1. Cực hỷ 2. Ly cấu 3. Phát quang 4. Diệm huệ 5. Cực nan thắng 6. Hiện tiền 7. Viễn hành 8. Bất động 9. Thiện huệ 10. Pháp vân.

5. Cứu cánh vị: sau Kim Cang định đến giải thoát đạo trong đó có ba thân Phật, bốn diệu viên tịch-viên mãn Phật quả. Tuy biết năm vị làm thế nào tu tập? Những hành giả muốn chứng Bồ Đề làm nhiều lợi lạc trước tiên phải phát tâm đại Bồ Đề rồi mới tu chánh hạnh. Ví như biển cả trước phải do từng giọt nước hình thành, tạo nên các món vật báu, chỗ cư trú v.v… Người ban đầu mới phát tâm cũng thế, năm thừa (Nhơn, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) thiện pháp nhân đây mà có; cũng như thế giới lúc ban sơ sanh trưởng dần dần mới có cây cỏ, chúng sanh sinh sống. Tâm cũng như vậy, bị năm đường do bám chặt các thứ nương gá theo, như hư không, không phải chẳng có gì chung quanh. Tâm đại Bồ Đề cũng thế có cùng các pháp hữu vi nhưng đều che khuất, như hư không, Bồ đề có thể cầu chứng. Chúng sanh trong vũ trụ đều khắp cùng, người sơ phát tâm tuy thấy mới bắt đầu nhưng một niệm phước tụ cũng khó nói hết, huống là qua nhiều kiếp phát tâm tu hành công đức lợi lạc hữu tình. Nhân đâu phát tâm?

1. Nghe thấy thần lực của Phật 2. Nghe giảng Bồ Tát giới 3. Thấy và nghe Phật Pháp sắp diệt. Nghĩ rằng, giáo pháp có thể diệt hết các khổ. 4. Đời mạt pháp đa phần chúng sanh si mê không biết hổ trẽn, ganh ghét đố kỵ, lo khổ, tâm ác, phóng túng, lười nhác, không tin. Vì rằng đời ác đa số khởi tâm ác phiền tạp như thế, ta phải phát tâm làm cho người khác học ở ta, mà phát Bồ Đề nguyện, do đó phát đại Bồ Đề tâm. Người muốn phát tâm trước phải đủ mười đức và ba diệu quán. Mười đức tính hay thắng đức là: thân cận thiện hữu, cúng dường chư Phật, tu tập căn lành, chí cầu pháp giải thoát, tâm luôn nhu hòa, gặp khổ hay nhẫn, từ bi đôn hậu, thâm tâm bình đẳng, tin ưa Đại thừa, cầu trí huệ Phật. Ba Diệu quán là: 1) che bớt pháp hữu vi, nghĩa là xem sanh tử ác thú khổ bức không cùng; ngay nơi thân thể gồm 5 uẩn, bốn đại (1) có thể tạo ác nghiệp. Cữu khiếu chín lỗ (2) thường bài tiết chất dơ bẩn hôi hám; 36 món (3) trong thân tích chứa. Vô số phiền não thiêu đốt thân tâm như bọt như bóng niệm niệm nối luôn không dừng, che dấu tạo nghiệp luân hồi trong sáu đường. Xét nghĩ như thế ngay tự thâm tâm nên xả. 2) Cầu Bồ Đề nghĩa là quán thân Phật tướng tốt trang nghiêm, pháp thân thuần tịnh, đủ giới đức, đẳng tâm, lực vô úy, vô lượng pháp cao tột hoàn thành hai trí (4) thương xót chúng sanh. Phật dẫn dắt kẻ mê khiến tu chánh đạo làm cho chúng sanh mau được dứt phiền não, thấy công đức tu tập phải khát cầu 3) Nghĩ chúng sanh tức quán chúng sanh bị si ái làm mê mờ nên thọ khổ vô cùng; không tin nhân quả mãi tạo ác nghiệp, bỏ phế chánh pháp tin theo tà đạo, bốn dòng (sanh, lão, bệnh, tử) lôi theo mãi, bảy lậu (5) thấm thấu. Tuy sợ các khổ vẫn cứ tạo ác nên hay chuốt lấy bao bi thương khổ não. Yêu nhau phải xa lìa là khổ biết vậy vẫn yêu, oán ghét gặp nhau là khổ, biết vậy vẫn ghét bỏ cay cú. Bị ham muốn sai sử nên khổ vô ngần, mong an vui mà luôn phạm giới, ôm mối ưu tư day dứt, tạo nghiệp dây dưa, hèn không biết xấu hủy báng Đại thừa, mê chấp sanh cao ngạo. Dù có thông minh vẫn đoạn mất thiện căn, tự đại cống cao nên không bao giờ biết hối cải. Sanh nơi chốn bận rộn hết cách không thể tu tập. Tuy nghe pháp nhưng không thực hành nên tập theo thói tà. Thấy chúng sanh khổ sanh tâm thương xót, được an lạc hẳn không sanh nẽo ác mà đạt diệu quả nghĩa là Niết Bàn thuần lạc. Kế đến nên phát tâm và cần phải phát nguyện. Nguyện rằng ta quyết định phải chứng vô thượng chánh đẳng Bồ Đề để làm tất cả việc lợi lạc chúng sanh, hay tùy ý theo danh hiệu chư Phật như đức Thích Ca khi mới phát tâm đã phát lời nguyện hy hữu rằng:

Trong ba vô số kiếp

Đời ác gặp thắng duyên

Phật Nhiên Đăng thọ ký

Thành Thích Ca Mâu Ni

Bồ Tát Vô Trước (6) nhân ý đây nói kệ tán thán rằng:

Thanh tịnh lực cao vời

Kiên trì môn phước trí

Bồ Tát mới phát tâm

Ba đại kiếp tinh cần

Trước tiên phải khởi niềm tin, tinh tấn, niệm, định, huệ mới trừ dứt chướng nhiễm. Thứ đến phát đại nguyện thường gặp thiện hữu để làm thắng duyên, dù gặp bạn ác tìm cách làm tổn hại vẫn không bỏ tâm đại Bồ Đề. Chuyên tâm tu thiện việc thiện gia tăng, dùng tâm tinh tấn mà sách tấn nhiều hơn, tất cả đều là việc tu hành ban đầu vậy. Y theo những gì trình bày trên mà phát sơ tâm dần dà đạt đến Vô Thượng Bồ Đề, dự vào Đại thừa cùng chư Bồ Tát trong biển sanh tử cứu thoát vô số chúng sanh, thẳng tắt mau chứng quả giải thoát. Kế phải nghĩ tới hai nghĩa sau đây: một là nghĩa hẹp, hai: nghĩa rộng. Nghĩa hẹp có ba: cảnh, hành, chứng đắc quả, do xưa mê không biết chân vọng và cảnh giới mà khởi phiền não nên phải thọ khổ. Nay nhận chân được nên cũng có ba: do đây ban đầu phải thẩm quán xét cảnh, khi đã phân biệt rõ thiện ác phải hành để trừ dứt. Nhân hành đầy đủ các đức tánh bèn chứng đắc. Chư Phật Thánh dạy tuy nhiều nhưng pháp tu chẳng qua gồm 3 loại như thế hành giả cần nương theo đó mà học. Sao gọi là chỗ quán cảnh giới? Có nghĩa trước tiên quán xét do duyên sanh hết thảy sắc, tâm, các tâm sở v.v... giống như hoa đốm thường dối gạt người ngu lấy đó làm tự tánh tùy thuộc (y tha khởi). Người ngu không biết vọng chấp đó cho là ngã, là pháp có thật như hoa đốm tánh tướng đều không gọi là giả lập (biến kế sở chấp). Tánh tùy thuộc trên ngã pháp vốn không có, do quán không đây mà làm hiển chân lý như hư không là tánh tuyệt đối (viên thành thật). Các pháp ta biết được không ngoài hữu – vô thể nó là không. Chỉ gọi chung là giả lập bên cạnh những chấp chặt của tâm giả lập có gốc thể của pháp, hợp lý phải phân biệt. Các pháp hữu vi đều tùy thuộc, đủ duyên hiển bày vậy. Các pháp vô vi là tánh tuyệt đối, pháp vốn là lý chân, còn pháp hữu lậu là tùy thuộc, vì tánh điên đảo vậy. Các pháp vô lậu là tuyệt đối, vì chẳng điên đảo vậy. Biết cảnh giới nên tu chánh hạnh. Ba môn học: Văn do nghe mà được, Tư do suy xét, Tu thực hành mà có, tuy chung hai phần phước huệ hết thảy công đức, nhưng phần căn bản tinh yếu sâu thẳm. Thắng nghĩa dễ đạt hợp thời khó sánh, xa lìa các lỗi lầm mới quán xét rõ được ý thức sâu xa Tiểu thừa, Đại thừa, tiệm ngộ, đốn ngộ đều không nương đây đạt lý như Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:

Tâm như người thợ họa

Vẽ năm ấm bày ra

Có cả thế gian và

Vạn tượng pháp bao la

Tâm Phật cùng một thể

Tâm chúng sanh cũng thế

Chúng sanh, tâm và Phật

Cả ba không sai biệt

Chư Phật hẳn rõ biết

Hết thảy do tâm biến

Nếu hiểu rõ thực tiễn

Chân Phật từ đây hiện

Thân tâm chẳng hai riêng

Tâm chẳng phải thân tuyền

Khởi tác dụng thường xuyên

Chưa từng có tự nhiên

Như cũng muốn biết tới

Chư Phật rõ ba đời

Quán sát như thế thời

Tâm là Phật mấy hồi.

Luận Trí Độ rằng, Bồ Tát lại khởi nghĩ như thế này: Ba cõi những gì có ra do tâm tạo tác. Vì hết thảy do tâm tạo nên ta thấy đó, vì tâm thấy Phật lấy tâm làm Phật. Tâm tức là Phật, tâm tức là thân ta. Tâm không tự biết, cũng không tự thấy. Nếu chấp tâm tướng là hoàn toàn vô trí. Tâm hư dối do vô minh khởi. Biết rõ tướng tâm là liền nhập thật tướng các pháp nên quán duy thức là cao tột đệ nhất. Thức ấy là tâm vậy, do tâm tập khởi vẽ họa làm chủ, độc lập một mình thu nhóm các pháp, chỉ vì bị ngăn che vướng chấp ngã pháp lìa tâm mà có, thức nói đó biểu hiện: Nhân duyên pháp tánh không lìa tâm. Hiện pháp lìa tâm nhất định chẳng có tên gọi duy thức; không nói hết thảy duy chỉ tâm thức mà còn nhiều thứ khác nữa, bạn lành, bạn ác, quả, nhân, sự, lý, chân, tục đều chẳng phải không. Tánh giả lập chỉ cái biết hư vọng, tự tánh tùy thuộc chỉ biết thế tục, tự tánh tuyệt đối biết thắng nghĩa, cho nên các pháp chẳng lìa tâm, như bài kệ sau:

Quỉ, súc sanh, người, trời

Mỗi loài tùy cõi hiện

Tất cả tâm sai biệt

Nghĩa lý không chân thật

Ở quá khứ mọi việc

Mộng tướng hai hình sắc

Giả duyên đâu phải thật

Nhưng cảnh - tướng hoàn tất.

Tại mỗi nơi trong các cõi chỉ duy tâm, e văn rườm rà nên giản lược bớt. Nay hiểu rõ thánh giáo nói duy thức, tuy nhiều nhưng không ngoài 5 loại:

1. Bỏ vọng giữ chân: quán tánh giả lập (biến kế sở chấp) chỉ do hư vọng khởi đều không thật nên phải dứt trừ. Xét tánh tùy thuộc (y tha khởi), tánh tuyệt đối (viên thành thật), thật thể do hai cảnh và trí nên tồn tại có hữu, như bài kệ:

Danh, vật đều như khách

Bản chất thường tìm xét

Cả hai cũng phải bặt

Chỉ lượng và giả danh

Thật trí quán nghĩa không

Duy hữu phân ba tánh

Kia không nên đây đồng

Là nhập ba tánh không.

Di ấy là không quán phá chấp hữu, tồn ấy là hữu quán phá chấp không. Nay quán không - hữu nhưng còn lại hữu-không. Hữu-không như không cũng không-hữu lấy tướng không - hữu ấy để quán thuần hữu thuần không là không hữu cho ai? Muốn nhập pháp tánh ly ngôn đều phải y theo phương tiện này mà vào, chẳng phải không-hữu đều quyết định ngay. Quán thật tế chẳng hữu chẳng vô vì pháp không phân biệt khó thể nghĩ bàn. Cho rằng cần phải quán không mới nhận rõ chân tức quán xét tánh giả lập chấp ngã - pháp không đưa vào chân tánh, thể tánh chẳng phải không. Ở đây Duy Thức nói rằng che sở chấp, như chấp cho rằng các thức thật hữu như thế là Duy; đã có sở chấp cũng phải trừ bỏ. Như chủ trương cho rằng, tất cả duy thức, chân, tục đế, thiện, ác, vô ký, (ba tánh). Ba vô tánh là:  Không, vô tướng, vô nguyện (ba giải thoát môn), tin sự bất tử, vô sanh, giác ngộ lý vô sinh (tam vô sanh nhẫn). Giáo hóa chúng sanh bằng phương pháp diễn đạt bình thường, thế tục, hay giáo hóa từng cá nhân một, bằng cách thích ứng với khả năng, căn cơ của mỗi người, hoặc đánh giá tâm bệnh của chúng sanh và chỉ trực tiếp chân lý cứu cánh rốt ráo (tứ tất đàn), lời nói ấn định đúng đắn, xác đáng, không sai, tất cả các hành đều vô thường, tất cả mọi pháp đều vô ngã và Niết Bàn là tịch tĩnh vắng lặng (bốn pháp ấn). Tìm cầu tập trung suy nghĩ là hoạt động thường xuyên của tâm thức: hối cải ăn năn, ngủ say trong mộng, tìm cầu suy xét, nghĩ tìm phăng manh mối (tứ tầm tư). Trí biết suốt tổng tướng và biệt tướng của hết thảy các pháp đúng như thực, không bị ngăn ngại (tứ như thật trí). Kiên nhẫn vượt qua những hoàn cảnh ngang trái, nhẫn chịu kiên trì đạo lý không hề lui sụt tâm trong năm đức tánh phục nhẫn. Bồ tát biệt giáo bậc tam hiền, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng là các bậc tu hành đã cao, nhưng chưa dứt sạch phiền não. Các vị ấy cần tu pháp này để chế phục phiền não. Tín nhẫn: từ hàng sơ địa đến tam địa (hoan hỷ địa, ly cấu địa, phát quang địa); thuận nhẫn: từ hàng tứ địa đến lục địa (diệm huệ, nan thắng, hiện tiền địa) cần tu hạnh này hướng về bậc chứng quả vô sanh; vô sanh nhẫn: từ thất địa đến cữu địa (viễn hành địa, bất động địa, diệm huệ địa, thiện huệ địa) cần tu tập để ngộ lý các pháp đều vô sanh; Tịch diệt nhẫn: từ thập địa (pháp vân địa) và hàng Diệu Giác tu tập dứt mê hoặc, đạt tới Niết Bàn tịch tĩnh v.v… đều quán các pháp này.

2. Bỏ viễn vọng giữ thuần chân: tuy quán sự lý đều chẳng lìa thức song nội thức có cảnh có tâm; Tâm khởi ắt có cảnh giới hiện. Chỉ nói duy thức không nói duy cảnh, chỉ duy thức nội cảnh cũng chung ngoại cảnh, sợ e bỏ ngoại nên phải nói duy thức. Aáy thế, những người ngu mê chấp cảnh, khởi phiền não tạo nghiệp trôi lăn trong sanh tử, không biết quán tâm tìm cầu ra khỏi. Thương xót con người nên nói duy thức khiến tự quán  xét để giải thoát sanh tử. Không phải nội cảnh như ngoại đều là không. Do cảnh có lạm xả không gọi duy, thể tâm đã thuần còn lại duy thức, nên Khế kinh nói: tâm, ý, thức bị duyên đều không lìa tự tánh, nên ta nói hết thảy chỉ có thức không chi khác hơn. Ngoài ra kinh cũng nói: ba cõi duy tâm, nhiếp giữ một chỗ đều quán pháp như thế.

3. Gom ngọn về gốc: Nội tâm chấp giữ cảnh hiện ngay. Trong tâm chấp chặt tạo nên tác dụng cũng vậy, hai pháp này đều nương thức, lìa thức gốc ngọn của pháp hẳn không có, như Duy Thức Tam Thập Tụng có kệ rằng:

Do giả nói ngã pháp

Có các tướng chuyển hiện

Kia nương thức sở biến

Đây năng biến có ba

Thành Duy Thức nói biến có nghĩa thức chuyển biến giống hai phần: tướng phần, kiến phần đều nương tự chứng phần sanh khởi. Kinh Giải Thâm Mật ghi rằng, các thức bị duyên duy thức biến hiện, mượn tướng thấy ngọn quy thức bổn (gốc) nên nói có lý sự, chân tục quán vân vân phần nhiều đều nương theo pháp này.

4. Dấu kém bày hơn: tâm, tâm sở đều biến hiện, chỉ nói duy tâm không phải duy tâm sở. Thể tâm vương hơn hẳn, tâm sở kém cần nương tâm vương; dấu kém không ngại chỉ rõ cái hơn, nên Bồ Tát Di Lặc nói bài kệ rằng:

Tâm phần nhiều hai loại

Như tham lam chẳng ngại

Hoặc tín pháp tương tự

Không khác với nhiễm thiện

Kinh Vô Cấu Xưng ghi rằng do tâm nhiễm, tịnh đều dựa theo pháp quán này.

5. Lìa tướng đạt tánh: thức biểu hiện gồm có đủ lý sự, sự là tướng dụng bỏ không lấy, lý là thể tánh nên phải cầu đạt được, nên có bài kệ rằng:

Trông dây tưởng lầm rắn

Dây hiện hẳn rắn không

Chứng kiến mới phân vân

Biết rắn đã nhận lầm.

Như các kinh đã nói, tâm tự tánh vốn thanh tịnh, các bậc hiền thánh đều đạt chân như. Tướng tùy thuộc biết căn bản tánh nên cũng nói rằng, nhứt đế, nhứt thừa, nhứt y là Phật tánh, pháp thân Như Lai tạng, không - chân như - vô tướng - bất sanh bất diệt - pháp môn không hai, không có phân biệt, lìa nói năng quán xét đều nằm trong pháp quán này.

Như đã nói không - hữu, cảnh - tâm, thể - dụng, tâm vương - tâm sở, sự - lý năm loại từ thô đến tế tướng lần lượt nằm trong diệu lý duy thức, bao hàm chung hết thảy. Nhờ Văn, Tư, Tu ba pháp học mà đạt thành diệu huệ trong pháp quán xét chọn lựa rõ ràng không phải đạt thiện. Nếu cõi dục quán chỉ có hai văn - tư, cõi sắc quán chung văn tu huệ, cõi vô sắc quán chỉ có quán tu duy nhất không gì khác hơn; Quán tu vô lậu cùng hai nghĩa trên. Các luận Duy Thức đề cập ở đây từ sơ phát tâm đến 40 tâm, do thấy nghe suy niệm mà tin hiểu sâu xa tùy thuận gặp cảnh duyên. Y theo lời Phật dạy suy ngẫm khiến việc quán chiếu tâm dần dần tăng trưởng mà chưa thể tu hai pháp quán không, do vừa nhập pháp tu không vượt thắng hơn được. Đối với gia hạnh vị với bốn phép đẳng trì (7) mà khởi bốn tầm tư quán xét chỗ chấp. Hoặc danh hoăïc nghĩa tánh nó sai biệt, giả có mà thật không. Khởi như thật trí hay chấp thức biến biết chẳng phải hữu (có) nên đức Từ Tôn có dạy bài kệ rằng:

Bồ Tát vì định an

Quán ảnh chỉ do tâm

Các tưởng đã trừ dứt

Tưởng đều do xét nét

Tâm trụ như thế thường

Biết sở chấp chẳng thật

Và năng chấp cũng không

Vô sở đắc sau cùng.

Đến đây Bồ Tát tuy đã tu quán, còn vướng theo tướng nên chưa thể chứng chân; lên vị Thông đạt được trí vô phân biệt, nơi chỗ bị duyên cảnh đều không sở đắc, trí đã mịt mờ tâm cảnh càng thêm đen tối. Lúc đó tướng hữu vô không hiện hữu, thật lý duy thức mới gọi là chứng đạt, như có bài kệ sau:

Hợp thời chỗ bị duyên

Trí đều không sở đắc

Bấy giờ trụ Duy Thức

Lìa hai chấp tướng pháp

Rõ chân thức rồi khởi hậu đắc trí (8) mới ngộ tục đế, như Kinh Hoa Nghiêm cho rằng:

Hẳn thấy rõ chân như

Mới nhận ra các hành

Tuy có mà không thật

Mọi sự do huyễn sanh

Đến vị này gọi là đạt pháp, an trụ cực hỷ địa (đất thuần an lạc) sanh nhà Như Lai, tự biết không bao lâu nữa sẽ thành Vô Thượng Giác. Nơi tu tập vị việc tu có khác; nơi bốn địa trước chân-tục duy thức mỗi phần ngộ riêng, vào đệ ngũ địa mới có ít hiệp quán, nhưng phải rất dụng công chưa hề bỏ mặc. Đến đệ thất địa quán biết chân tục tuy thời gian dài mới được gia hạnh. Từ bát địa trở lên không cần cố gắng khuyến tu, cuộc vận hành trong không khởi có thắng hạnh. Đến vị cứu cánh tuy chăûng tu nhưng niệm niệm đủ duyên biết rõ chân tục, cần nhắm tới hai phần: hiện hành và chủng tử. Nơi hai vị đầu tiên còn hữu lậu trong ba huệ gồm chung hai pháp tu (văn, tư), tu tập vô lậu vị thông đạt mới tu huệ vô lậu, thông qua pháp tu hiện đang thực hành chỉ tu hữu lậu.Ở vị tu tập đệ thất địa trở về trước hữu lậu, vô lậu đều có đủ cả nơi ba huệ, đạt pháp tu nơi đệ bát địa trở lên còn hữu lậu, vô lậu chung ba huệ. Chung pháp tu nơi cứu cánh vị các pháp hữu lậu đã trừ; dù chỉ còn vô lậu nhưng vẫn tu đầy đủ. Sở dĩ nói tu để làm cho việc quán xét hiện hành lần lượt gia tăng hơn ngõ hầu được viên mãn. Người đạt tự tại thấp cũng cần phải tu lên; kẻ chưa đạt tự tại không thể tu lên được. Đây nói về Duy Thức bao hàm chung các hành, các hành đều nương Duy Thức mà tu. Thử tóm lược về hình thức tu hành như thế nào ? Người tu hữu lậu có thể cảm được tất cả diệu quả thế gian; người hành vô lậu đã diệt sạch các chướng đạt đại giác ngộ làm lợi lạc chúng sanh cùng tận đời vị lai. Đây là nói riêng, còn nếu nói chung là dung thông tất cả, nói lược pháp tu là như thế; còn tu tập rộng như thế nào ? Pháp tu cũng có ba phần : 1. Chỗ học xứ 2. Pháp tu học   3. Khả năng tu học. Trước hết phải biết chỗ học xứ, thứ đến cần dựa vào pháp mà học và sau cùng mới có khả năng tu học, nên cả ba đều ở nơi hạnh Bồ Tát. Nơi học xứ lược phân thành năm loại:    a) nơi được dạy dỗ: nghĩa là phải hiểu rõ ba thừa có nhiều thành phần khác nhau căn tánh không nhất định nên phải giáo hóa thành thục. b) Nơi lợi hành: nếu chỉ biết thuần lợi riêng tham cầu tài vật thọ dụng là bỏn xẻn nên phải tìm hiểu học hỏi, được sanh lên cõi trời thích giữ giới tu hành, cúng dường Tam Bảo mong đạt hữu lậu là tham lợi đề cao đức sáng làm cho kẻ khác thoát nạn trở lại tu tập; đắm say tu hành xả lợi cho chúng sanh. Nếu thuần lợi tha như trừ tà kiến tu hạnh bố thí, cho không thấy đủ là thuyết pháp v.v… Những việc thuần tự lợi phải chấm dứt, một là không gây tội, hai thấy lợi phải khéo tinh tấn tu tập c) Chân thật có nghĩa là đối với tánh mình biết rõ là tánh sở hữu, ắt việc đời, việc đạo đều thành tựu cả. Thực hành pháp chân thật thuần tịnh nên hai chướng theo đó dứt trừ d) Oai lực xứ có nghĩa sức mạnh của lực thần thông đạt đến giải thoát dứt bỏ keo kiệt, nhẫn đến đủ sức đạt được thiện pháp đời sau làm lợi lạc hữu tình, kham nhẫn chịu đại khổ. Chúng sanh tin tưởng, tám tướng (9) hiện hành; người mù kẻ sanh ngược đều được lợi lạc, sanh ra có oai lực, các căn đầy đủ. Pháp giới chúng sanh mọi nơi mọi thời người thông tuệ biết hết; có thần thông biến hóa cảnh giới hóa thành không cảnh giới v.v… đủ oai lực cộng (chung) hay bất cộng (không chung) giữa Phật và Bồ Tát. Biết năm lực này họp cùng chánh cần tu tập đạt thành Phật quả. e) Bồ Đề xứ: nghĩa là trí quyết đoán v.v… hết thảy công đức đều biến khắp đạt thành quả hy hữu hiện tại. Năm xứ như thế là cơ duyên tối sơ làm nơi giáo hóa, rồi mới khởi hạnh lợi tha hơn hết. Thứ  nữa, biết rõ thật nghĩa có thể dứt đoạn, có thể tu tập. Nơi pháp oai lực tu được tự lợi, về sau đối với quả vị Vô Thượng Bồ Đề tha thiết khát cầu tinh cần tu chứng. Biết nơi học xứ để rồi chọn tu tập theo. Hành giả học pháp trước hết đối với Tam Bảo phải tạo công đức với Phật, Bồ Tát đủ oai lực; các chân thật nghĩa, không bài bác nhân quả để được lợi lạc. Có đủ phương tiện rồi khéo nói thuyết Khế Kinh làm cho mọi người tin tưởng, hiểu rõ hẳn nhiên ham thích; kế đến phải cầu pháp nên đối với hết thảy Phật Pháp  như nội minh, nhân minh, thanh minh, y phương minh, công xảo minh nên tầm cầu học hỏi. Phải cầu như thế nào ?

Đối với Phật pháp phải vững tin, yêu kính, tha thiết muốn nghe. Giá như vì nghe một câu Phật pháp mà phải đi trên thiết lộ chân trần còn hoan hỷ sấn bước, huống chi lại còn ưa thích nhiều lời hay lẽ đẹp. Tuy yêu tự thân và những của cải với yêu giáo pháp không thể so sánh được, yêu pháp không chưa đủ mà còn không biết mệt mỏi tin sâu áp dụng mới quí. Tâm ngay thấy thẳng, trọng đức mến pháp, tới nghe thầy giảng pháp không ngại chẳng thấy khó khăn, chỉ nghĩ diệu bảo, tuệ nhãn, trí minh, thắng quả, vô tội; tưởng nghĩ tới đó ý vui tin sâu cung kính không có tâm cao ngạo, không làm việc phá giới, những sự đê tiện, tồi bại, không có lời thô, văn vụng, ý tưởng lạ đời mà chỉ mong việc thiện không phô dương tài đức, không vì danh lợi mà cầu pháp, hợp thời cung kính lắng nghe, chớ dấy tâm tham cầu mà tổn hại. Đối với tự thân cũng không khinh thường (miệt thị), chỉ vì cầu hiểu, chuyên chú để tai mắt tinh chuyên nghiêm trì chánh giáo. Với thanh minh làm cho người tin thích kinh điển khiến chúng sanh sanh tâm cung kính. Đối với y phương minh hay phương trị liệu giúp trị dứt bịnh làm cho chúng sanh an lạc. Đối với công xảo minh tức công nghiệp dùng ít sức mà thu nhập nhiều tài bảo lợi ích số đông. Đối với năm môn học quan trọng này thứ tự cần cầu không bị tâm chướng ngăn sẽ sanh nhiều vật tư (tư lương) sớm đầy đủ. Thứ đến nên vì người tuyên dương giáo pháp, nói rộng ngũ minh cho ai nấy thích ứng lợi lạc. Làm thế nào nói pháp ? Nghĩa là nên giữ oai nghi đúng pháp an trú, không vì người không bịnh ngồi nơi tòa cao nói pháp v.v… Chư Phật, Bồ Tát trọng pháp làm cho người khác đối với pháp vô cùng trân kính, nên vô vấn (không đợi hỏi) mà đáp, chớ nên tác oai quyền của vị thầy, theo nhu cầu quần chúng thứ tự giải thích không tâm tham tiếc mới gọi nói pháp tùy thuận. Đối với kẻ oán nên giữ tâm từ, đối với hạng người ác phải giữ lòng lành, đối với kẻ thích ham vui phóng túng, bần tiện, hạ cấp nên đem lòng thương xót an ủi, không niệm ghét oán để hủy nhục người. Không mong vì danh lợi, được người cung kính, xưng tụng tán dương mà nói pháp, nên niệm nghĩ tới việc tu tập. Đối lời Phật dạy ba nghiệp gây tội nên sớm xa lìa; những gì được nghe không nghịch trái với sự tu hành. Ở một mình chỗ thanh vắng luôn nghĩ tới giáo pháp; chuyên cần quán xét không gián đoạn (xen hở) mới thích hợp, điều nào chưa biết mong biết, việc gì đã biết đừng quên; chưa thấu đạt Phật lý không sanh tâm bài báng, sợ mình không có mắt tuệ, trực tâm phải tin chắc, khéo biết ý mật, tà thuyết không dao động, lìa ngôn-cảnh để chuyên chú buộc tâm, lìa mọi hý luận không để loạn tưởng. Chuyên tu thiền quán, tuệ minh sát (vipassana); kế phải theo lời chỉ dạy, nên quán xét sâu tâm người nơi ưa thích của họ, tùy nghi tích cực thuyết pháp làm cho người từ bỏ tâm cao ngạo. Và nữa, phải dạy khuyên người nên tránh gây tội mà phát tâm trong sạch tươi sáng. Các pháp ác đang một lúc phạm cần nên như pháp mà khuyên ngăn dứt. Nếu phạm nhiều lần nên đem tâm thanh tịnh thân thiện vui vẽ trách khéo làm cho người luôn nhớ. Kẻ dưới phạm (nhỏ) có thể phương tiện; người trên phạm phạt vĩnh viễn, chớ để kẻ phạm nhiều lần mà mất phước. Người tu hành đứng đắn nên đem lòng thương mến tán trợ, khiêm nhường khuyến khích làm cho họ vui vẻ tiến tu để ba nghiệp được thanh tịnh. Trước hết đem của cải ban cho chúng sanh khiến họ được nghe giáo pháp để tu hành. Đối với người si mê nên nói lời ngọt dịu (ái ngữ) làm cho họ có cơ hội học tập chiêm nghiệm giáo pháp Phật dạy. Trừ sạch điều bất thiện, khuyến khích việc thiện, với việc chính là phải cùng nhau tu hành làm cho không ai nghĩ là được giáo hóa. Thứ nữa tu Ba La Mật Đa (giải thoát không lui sụt) là ban xả thí ba nghiệp không tham. Phàm làm việc bố thí chỉ một điều là làm người khác vui hơn làm lợi mình hoặc thấy không lợi chẳng cho. Nếu chỉ bố thí mà không tạo được an lạc hoặc tạo được an lạc cũng nên ban cho người. Như mong muốn của cải bất chính của kẻ khác quyết định dứt trừ, cái tâm phải theo lẽ tự nhiên. Như mong đao trượng v.v… để tự hại và hại người, không phải của cải của mình, kết cấu với người mưu lấy cho được. Ăn hại như loài côn trùng vô loại lạc loài, giết hại loài vật, cúng tế thần linh làm tổn hại sanh linh dưới nước, trên đất. Gây oán kết thù, binh loạn không hợp, mong cầu điềm dị, gây sầu chuốt não, trấn áp chèn ép, thích ác cầu vị, đoạt của người khác đem cho, bạo ác tổn hại, tự phạm học xứ. Kẻ oán người thân sanh tâm phân biệt, theo hơn bỏ kém, theo đa bỏ thiểu, hoặc mang tâm hoài nghi làm cho lòng vẩn đục. Người bố thí nên tán dương nêu cao ân đức. Hướng về người thí khích bác cho bỏ việc bố thí là tà mị ác cầu vọng tưởng tà chấp mà cho là pháp lành. Như kinh đã dẫn sợ mình nghèo khó, tàn tạ xấu xa, cùng người xuất gia chưa từng thưa hỏi, bố thí bừa bãi phi pháp chẳng hợp nghi cách, chứa giữ đồ vật để làm ân phước. Một số mong cầu trở lại nương vào quyến thuộc y như danh dự thế gian, cầu được đền ân đáp nghĩa, chừng định muốn được tôn trọng tán dương, ý tưởng lại giới hạn. Tuổi trẻ lừa dối để về sau hẳn gặp thất bại, quay mặt chính mình biếng lười làm tổn người. Không chịu nương người đến với mình  để lần lượt ban cho đều, vì tâm chẳng hoan hỷ về sau sanh lòng hối hận. Trước chưa dụng tâm cầu chân bỏ giả, chẳng thích thời, trái với nghi cách lộn xộn, bị cười nhạo khinh rẽ khiến sanh thẹn thấy quê đến đổi khó chịu lặng thinh không muốn cho nữa. Ngoại đạo đến cầu học Phật Pháp lại trao đổi bí mật hành động ấy chưa phải là Phật Pháp. Tất cả những việc làm sai trái trên đây không nên làm; ngược lại tất cả đều nên làm. Của báu quí giá nếu thiếu phải nên nghĩ rằng: một là an lạc không nghèo khổ, hai là nghèo khó không nương cậy ai. Lượng tài mình có đủ nên toại nguyện, thiếu phải khéo ẩn nhẫn tầm cầu. Nên biết rằng ôm tâm keo kiệt phải chịu nghèo thiếu trước, gây tạo nhân phước như trồng cây, khéo hướng dẫn lời hay không bị hao tổn mà còn được lợi lạc. Ta có của báu tùy người ban phát, cẩn thận đừng để kẻ khác cầu mà không đáp ứng. Như khi tôi bố thí anh nên tùy hỷ vui thuận rồi dần dần phát tâm bố thí, thấy kẻ tới xin phải biết vui vẻ ban phát. Nếu có tâm kiêu ngạo khinh thường việc xin, nên kín chớ làm thương tổn người để họ được mãn nguyện, khiến người vui không e thẹn mà lui tới với ta. Như trước khinh thường sau mới biết đừng chê cười mà nên đem lòng thương xót. Người vui quên với ta về điều lỗi lầm trước, ta luôn hoan hỷ khiến người cảm thấy an tâm. Nếu không có của cải nên cho theo khả năng; như kinh sách chẳng hạn ban cho đừng thiếu.

Đối với Phật Pháp vi diệu cần phải tuyên dương làm cho chúng sanh thích ứng học hạnh bố thí. Luôn có lòng nhân xả thí phải hóa độ người xin khiến họ phát tâm ban phát; chớ mắc lỗi hèn không cho làm người xin bất kính để mất niềm tin. Phải biết ngoài cách cho ấy, còn một cách khác là ban phát kinh sách cho người xin, như thấy người thiếu, không đủ sức biên chép nên nghĩ cách giúp đỡ. Ta chẳng tiếc chỗ yếu kém nên chẳng ngại giảng kinh, như có ngại cũng phải ban phát, nhờ bố thí mà dứt si ngây không keo kiệt, huống đầy đủ tư lương diệu trí còn e kém khuyết gì. Nếu không vì tham tiếc cái hơn mà nghĩ bố thí để diệt phiền não, còn nghĩ tới chúng sanh, tức là đầy đủ trí nhân. Quán xét phiền não như không, thấy không để mà tăng thêm bố thí làm trí tuệ sáng cũng là yêu thích làm việc bố thí cho chúng sanh. Nếu lúc thí cho người liền chỉ nghĩ tới mình như thế là thí mà phạm tịnh giới, nên khéo tìm cách khuyến dụ người phát tâm. Nuôi dưỡng tài bảo làm cho tâm thanh tịnh cần nên phụng sự chư Phật, Bồ Tát. Tuy nuôi dưỡng tài bảo trong dòng Thánh chủng cũng phải nghĩ phước đây luôn được tăng trưởng là nhờ chư Phật, Bồ Tát gia ân hộ trì. Nếu thấy bố thí không hợp lý xứng đáng nên nói rằng: này hiền giả, đây là vật của người khác không phải để cho ngươi; nhờ lời an ủi ban ra, hoặc đem nhiều của báu ban cho người, khiến người biết bố thí không còn keo kiệt nữa. Hẳn Kinh này không phải vật riêng tư, gặp khổ oán lấy đức ban cho chúng sanh, nên lấy từ bi, hỷ xả mà ban phát. Nếu bị bốn chướng (10) không thể xả thí ban ân nên khởi bốn trí để đối trị: 1. Có của cải, tâm không thích bố thí, phải nghĩ do trước chưa từng tu tập, nên nay chẳng xả sau này càng thiếu hụt hơn phải cần nỗ lực tu tập đạt được giác ngộ. 2. Của cải yếu kém, tâm không thích bố thí, nghĩ tới khốn khó này là nhơn làm trở ngại bố thí, nên khởi tâm thương giúp. Chấp nhận nghèo khổ trong sự ban phát làm lợi lạc cho chúng sanh tâm vẫn luôn ẩn nhẫn chịu đựng. 3. Của cải làm mờ tâm tánh không thích bố thí, nên nghĩ do tham đắm si mê điên đảo, nên biết đời sau sanh ra gặp nhiều khổ hận, do vậy nên nỗ lực tranh thủ một đời để đạt đến trí tuệ. 4. Tuy bố thí mà chỉ nghĩ đến kết quả trong đời, nên sớm biết rằng đó là tà kiến, phải quán các hành đều không bền chắc, ly tan, chóng hoại diệt, chẳng lấy đó làm vui thú mà mong cầu Bồ Đề, vì suy nghĩ mọi vật vô thường không bền chắc lâu dài. Phải trong thanh tịnh khởi niệm tin sâu, luôn luôn buộc niệm giữ tài bảo vô giá. Dùng lực bố thí chúng sanh nên ít dụng công mà được vô lượng phước. Ở chỗ của quí đáng yêu nên tự mình xả thí, giả thử gặp khó khăn cũng đừng nên keo kiệt. Lòng tin, sự tôn kính, tự biết hợp thời không để tổn hại mình và người khác mà làm việc xả thí. Nên nghĩ ba điều này: cho vật thanh tịnh là ban phát tài thí, trừ sạch hết sợ hãi là hành vô úy thí, khuyên người tu thiện nghiệp là pháp thí, nhanh nhẹn cho không một mảy may tiếc giữ. Không phải người ta mong mỏi được của xả thí nhanh gấp như thế, mà tùy theo vật mình có ban cho không nhứt thiết đợi dư dã mới bố thí. Đối với kẻ khiêm hạ không tranh đua không cao ngạo, giữ giới là học để tịnh ba nghiệp. Phàm tu giữ giới thanh tịnh chính là gìn giữ ý thanh tịnh, lỡ phạm trở lại  giữ giới thanh tịnh tôn trọng không phạm lại nữa. Trường hợp lỡ phạm nên xem xét người khác mà khởi tâm hổ thẹn. Giữ ý trong sạch nếu lỡ phạm giới nên tự hồi tâm biết xấu trẽn mới có thể giữ giới lại thanh tịnh trong niệm chí thành. Do hai tâm hổ, trẽn nên tránh không làm việc ác, trước hai sau một mới có thể không phá giới. Đã phạm giới trở lại giữ thanh tịnh có thể mau thoát khổ liền được nhiều lợi ích đạt đến giải thoát. Hai giới Phật tử tại gia hay xuất gia đều giữ gìn cẩn trọng ba tụ giới thanh tịnh này:

1. Nhiếp luật nghi giới:  trong đó có bảy chúng(11) đã thọ giới, riêng giới xuất gia bỏ địa vị Luân vương như bỏ rác bẩn không mong muốn cõi trời, huống là địa vị, tiền tài làm chướng ngăn đạo quả; sá chi những chuyện nhỏ nhoi khác cần phải biết. Không phải giới là đủ mà còn phải tránh lời ác, lập thệ sớm sửa đổi, dần dần kiểm soát lời nói ý nghĩ đúng. Nghe việc khó nghe tâm không nhiếp nhược, tự gắng cần tu. Không đỗ lỗi người khác, phải tự nỗ lực xét lỗi mình, thấy người bạo ác khởi lòng thương giúp. Bị người làm nhục không giận dỗi chớ bực tức. Có lỗi sám hối trừ diệt nguyện không tái phạm, sống thiểu dục tri túc kham chịu mọi sự khổ, không cằn cựa, vụt chạc, mà giữ oai nghi đoan nghiêm, lìa bỏ kiêu ngạo, không làm các nghề bất chánh mưu sinh.

2. Nhiếp thiện pháp giới: nghĩa là sau khi thọ giới tu tập đại giác để tích chứa các thiện pháp. Giữ giới ẩn tu Văn - Tư - Tu. Thờ việc đáng tôn thờ, kẻ bị hại phải tỏ lòng thương xót ban cho người lời thiện lành; tán dương công đức người bố thí.

Đối với việc thiện nên tùy hỷ, được bao nhiêu công đức cúng dường phát nguyện hồi hướng và tinh tấn giữ giới. Ăn uống biết điều độ khéo giữ gìn các căn. Đầu đêm rạng sáng luôn luôn giữ niệm tĩnh thức; thân cận bạn lành, đừng hoài đến thân mạng, tài sản. Đối với việc ác đều không nên làm, khéo biết rõ nhân quả cho tới lúc lìa hết chướng duyên, ngỏ hầu thứ tự vào được thập trụ(12).

3. Nhiêu ích hữu tình giới:  đối với chúng sinh không làm họ mất công ăn việc làm mà nên trợ giúp. Gặp người bịnh nên giúp đỡ, gặp người mù nên dẫn đường, người điếc nên nói lớn, người câm ngọng nên làm dấu, người mê lầm chỉ đường, kẻ mỏi mệt cho nghỉ ngơi, người tật nguyền cho xe đi, người ngu độn dạy khuyên lấy trí tuệ trừ trói buộc; giải thích chỗ hơn khuyên người dứt tâm keo kiệt, thọ nhận của tốt khiến người tin lời Phật dạy diệt phiền não dứt các khổ. Thọ ân nghĩ tới việc đền đáp sẽ thấy kết quả việc thiện đến. An ủi nói năng chân thành, luận bàn nhã nhặn ôn hòa, gặp bả mồi danh lợi không hèn yếu. Người sợ khiếp nên trợ lực, kẻ lo lắng nên giải bày, luôn luôn sẵn sàng tư lương lúc cần ban cho ngay. Trước lo chẩn bịnh sau mới cứu cấp; nếu tự thấy còn chỗ yếu kém nên bồi dưỡng để giúp cho người. Có đại chúng cùng dùng chung  không quá tính toán (chi li). Mỗi lời nên bảo ban khuyên nhắc, nhắm tới bất vụ lợi mà làm, nhờ đó chuyển hướng người khác. Không nhiếc mắng kẻ vi phạm, chẳng làm họ buồn phiền, cũng không khinh rẽ làm họ sanh lòng hổ thẹn. Không che đậy cái chướng người, không tự cống cao cũng như không quá thân thiện người. Nếu phải thân cận cũng không nên phi thời gần gủi người, không chê bai cái người thích, không khen cái người ghét. Không phải chỗ thâm tình không tỏ hết sự thật, và đừng bao giờ mong chẳng trái ý mình, được vậy là đạt vô lượng tạng công đức. Như chư Bồ Tát trước phát Bồ Đề tâm rộng lớn muốn cần cầu tu học; đối với người cần phải cởi mở nên như pháp mà giảng dạy. Khi có giới Bồ Tát nên khuyên người thọ để sanh lòng ân cần tôn trọng nuôi dưỡng; vì chánh pháp mà truyền thọ cho người khác. Nếu không có người truyền giới nên tới trước tôn tượng Phật tự phát nguyện thọ giới đúng pháp. Từ đây trở về sau Bồ Tát luôn suy nghĩ việc nào cần phải làm và những gì không nên làm; thấy nghe, hiểu rõ thích hợp với ý kinh. Cho dù người tài trí thông minh giảng luận tài giỏi, thậm chí hủy báng giới Bồ Tát, người như thế chẳng nên thọ học; hoặc kẻ không tin hủy báng cũng chớ nên chỉ dạy. Nếu an trú trong tịnh giới - giữ giới thanh tịnh - hẳn được công đức rất lớn. Kẻ hủy báng giới pháp mắc tội rất nặng;  lời nói, chỗ hiểu biết chưa hoàn toàn xả không thể giải thoát được. Không phải khuyên người là hơn mà nên nghĩ cách khéo để họ khởi niệm lâu bền mới thích hợp. Có bốn pháp thắng xứ cần nên suy nghĩ: 1. Tự đề cao danh lợi mình sẽ làm phương hại người 2. Cầu pháp với tâm không keo kiệt 3. Bị người hãm hại tới xin tạ tội nên chấm dứt oan kết 4. Hủy báng giới Bồ Tát vì muốn tuyên dương thời tượng pháp (13) do tin theo tà pháp. Người nào phạm bốn điều này không đủ lực tăng trưởng thanh tịnh, ngay cả không đuợc đại tư lương. Giống như Bồ Tát không thật là Bồ Tát nhờ xả hai duyên mà được tịnh giới.

1. Lập đại nguyện cầu Vô Thượng Bồ Đề.

2. Thượng phẩm bao hàm thắng xứ của hành giả, trung phẩm, hạ phẩm vây chặt không lìa tịnh giới. Qua vài lần phạm bốn thắng xứ mà vẫn không biết xấu hổ, lại cứ muốn phạm gọi là thượng phạm, không phải phạm trong giây lát mà có thể xả được. Nếu không có hai duyên ấy dù chuyển sanh qua đời khác vẫn giữ giới thanh tịnh, hay dù quên mất giới đã lãnh thọ vẫn nghĩ đến giác ngộ, đó không phải người mới thọ giới mà được. Người niệm nghĩ giới như thế luôn sanh nơi an lạc, gặp được Tam Bảo hằng ngày tùy tâm cúng dường, trân trọng lễ bái. Tán thán bài kệ bốn câu suốt đời tin tưởng niệm nghĩ ân đức Tam Bảo. Không một chúng sanh nào không độ với tâm cung kính khuyên răn chớ sanh tâm tham dục, xả bỏ danh lợi, kính noi đức sáng hợp thời đền đáp. Đến như thỉnh cầu pháp,  thọ nên không nhiễm vật thí, xả không nhiễm pháp. Đối với già tội (tội ngăn che giấu diếm) cần nên cẩn thận. Nếu vì lợi người tùy trường hợp cần thể hiện ngay nên sống chánh mạng (không làm nghề tà). Dứt sạch ba nghiệp, trừ dứt sanh tử khổ ham thích Niết Bàn an lạc. Nghe tiếng chê, lời khen đều phải giữ mình như băng tuyết; cảm ân kẻ làm hại. Không nhiễm thói quan quyền để trả thù ngang tàng. Thức ngủ hợp thời, lìa ái, giởn đùa, hạ mình cầu pháp, trừ dứt năm thứ che tâm (14), không hủy báng Nhị thừa. Giỏi rành Bồ Tát tạng (kinh tạng) mới học tạng Thanh Văn, tinh thâm Phật pháp mới nghiên cứu ngoại luận. Người tuệ trí mỗi ngày học đủ hai phần nội điển và một phần ngoại điển như vị cay thấm dần. Nên tin thích mến pháp để được nhiều lợi lạc; nghe pháp phải chú ý lắng nghe tinh cần, khéo dựa văn nghĩa tin kính pháp sư; cho tới khi nào hiểu đúng lời chỉ dạy. Như với người tâm cuồng loạn bị  thống khổ bức bách chưa thọ tịnh giới của hàng thập trụ thời không vi phạm; trái lại là vi phạm nên biết là đã phạm tội. Nếu thành phần bực trên phạm nhiều lần hoặc ba hoặc hơn ba lần phải biết cần sám hối đúng pháp để trừ dứt, cải đổi sửa sai, thành phần bực hạ phạm một lần bày tỏ hối hận phát lồ, hiện nếu chưa diệt không thể tiêu tội được, phải thành tâm tự phát thệ không phạm trọng giới, do thành tâm như vậy tội đã phạm đều được thanh tịnh trở lại. Nương theo giới đây tu tập hẳn dứt sạch ba nghiệp; một là viên mãn do giữ giới không thiếu sót, nên ba nghiệp thanh tịnh, hai ý nghiệp tròn đầy vì pháp xuất gia cầu đại Bồ Đề, cho chí không cầu quả dị thục đời sau, ba là nhân đủ do trước đây hành thiện nghiệp nay được thắng quả lại càng tu thiện há chẳng an lạc sao! Như trái phạm phá giới bị khổ nạn; ngược lại người giữ tịnh giới, bỏ địa vị giàu sang cho tới khi chết không phạm một mảy may mà luôn chẳng buông lung cũng như không dễ duôi trái phạm, do đây đời đời sanh ra được năm điều lợi: 1/ được 10 phương chư Phật hộ niệm 2/ Lúc bỏ thân mạng được niệm hoan hỷ 3/ Những người tu hành thường gần gũi 4/ Thành tựu viên mãn mọi công đức 5/ Sanh ra thường gặp giới, nhờ giới hành giả thấy tánh. Người trụ tâm giới thành tựu Phật quả lợi lạc hữu tình nên tinh tấn chớ phạm. Nhẫn tức thì trong cảnh có được niệm vô sân nhờ tinh tấn huệ xét soi. Được ba nghiệp như vậy, quyết lòng nhẫn sự oán hại, nghĩa là gặp người hại nên nghĩ như thế này: đây là do nghiệp trước của ta. Nay nếu không nhẫn tức tạo thêm nhân khổ, thế thì chẳng thương mình nên tự buộc hại. Lại tự thân ta thân người bản chất đều khổ, chỉ vì người không biết nên mới làm hại ta. Ta đã biết thà để người hại, Thanh Văn tự lợi còn chẳng làm khổ người, huống nữa ta làm việc lợi tha, nên nhẫn chịu người hại, bèn suy nghĩ thế này là nên nghĩ tưởng năm điều:

1/ Niệm nghĩ người đối với ta từ vô thỉ lâu xa hoặc là quyến thuộc hoặc là bằng hữu nên trừ bỏ niệm oán mà nghĩ tới tình thân thiện.

2/ Niệm nghĩ hành động chỉ tùy thuộc nơi các duyên, chỉ có pháp vô ngã thì ai là kẻ oán hại? nên lìa bỏ hữu tình chỉ nghĩ pháp.

3/ Nghĩ rằng người khác sanh trưởng trong vô thường, ta muốn báo oán không gì hơn là đoạn mạng sống họ. Ai là người trí, đối thân mạng mình đang ở trong sanh tử lại muốn sát hại, đâu chẳng khởi niệm nhiễm ô, huống lại sanh lòng sát hại, nên bỏ thường mà an trụ trong vô thường.

4/ Niệm nghĩ việc thạnh suy đều là ba khổ (15) luôn bám sát nhau. Nay ta đối với người nên lập phương tiện làm cho người vĩnh viễn xa lìa. Chấp giữ làm gì cho thêm khổ, phải đoạn ái lạc nên nghĩ tưởng khổ.

5/ Niệm nghĩ cầu Bồ Đề vốn là chúng sanh nên ban cho sự an lạc, nhận làm thân thuộc, chấp làm gì bây giờ trở lại chuốt lấy oán hận, nên tưởng đến bao dung, tự không giận ghét chẳng làm hại người, cũng không để ý theo đuổi tiếp tục, nên mọi oán hại đều có thể nhẫn qua. Yên trí chịu nhẫn khổ nếu gặp khổ nên nghĩ tới điều đó. Nếu gặp việc khổ nên nghĩ như thế này: ta từ vô thỉ ngu muội lỗi lầm vì ham mê các dục nên bị sự khổ bức; nay cầu Bồ Đề thành đại sự nghiệp dù trãi qua trăm nghìn kiếp thống khổ cũng phải nhẫn chịu, huống gì khổ ít ư ? Nếu đối với cả bốn sự tệ hại ràng ràng vẫn tĩnh táo không nghĩ lo phiền, các pháp thế gian hoại diệt cho đến bịnh chết vẫn trụ bốn oai nghi mà thọ học pháp. Xuất gia hủy bỏ hình tướng đẹp, mặc hoại sắc tự phấn đấu khắc phục, hành hạnh khất thực, bỏ của phi pháp, đoạn dâm dục, tu thiện, lợi ích đúng pháp, cần khổ đều có thể nhẫn chịu. Tinh tấn trừ biếng lười cầu đại Bồ Đề lìa bỏ tâm ô nhiễm, chớ sanh tâm thoái chuyển. Nhẫn quán sát kỹ ba đế, với Tam Bảo tu tập trí tuệ khéo hiểu rõ mọi việc hơn, đối với chúng sanh thấp kém ti tiện đối xử tôn trọng bình đăûng giống nhau, oán thân đều nhẫn nại chịu đựng. Trước chỗ trú xứ, ngày đêm qua lại thậm chí thọ bệnh cũng cần tu tập ba nghiệp. Với sự bức hại nhờ nhẫn nên được khỏi, với chỗ mong cầu do kham nhẫn mà được. Thường làm việc lợi lạc trước sau không thay đổi, không một việc lợi ích nào bỏ qua mà không làm lợi lạc. Chỗ oán nhanh chóng giải bày tha thứ, sớm chịu đừng để mình sanh tâm ghét giận. Không kham nhẫn được nên khởi tâm xấu hổ, sửa đổi xét kỹ do nhẫn mà hiện đời  được an lạc, trừ mọi việc bất thiện là nhân đưa đến hạnh phúc khi lâm chung không hối tiếc. Đời sau sanh cõi thiện không thù không oán chứng được Vô Thượng Giác (giải thoát); cũng thấy không chịu được cảnh đã tạo khổ quả. Tự nghĩ nên dạy khuyên an ủi tán trợ người khác. Tinh tấn tức là tu tập thiện pháp dũng mãnh dứt 3 nghiệp. Tinh tấn đây có 3 nghĩa, gia hạnh tinh tấn là tu thiện tâm trước sanh dũng dước phát lời thệ nguyện rằng con nay vì muốn thoát khổ: 1) Chúng sanh khổ: lấy một ngày đêm trong trăm nghìn đại kiếp (16) hơn gấp trăm ngàn lần thường ở địa ngục mới chứng Bồ Đề, tâm dõng mãnh của con cũng không lui sụt, huống gì có lúc trãi qua thời gian khổ bức ít hơn. Ở trong sự khổ chiêm nghiệm mới hiểu chỉ là một phần nhỏ, thế nhưng nhân tu đại Bồ Đề còn dài lâu vô số kiếp để đạt quả vị. Cho nên người đạt quả vị không yếu hèn khiếp nhược 2) Nhiếp thiện tinh tấn nghĩa là nhờ đây dẫn đến viên mãn các hạnh. Tất cả phân biệt phiền não, dị luận, khổ bức đều bất động, ân cần nhẫn đến lìa cao mạn mà hành. Đức Thế Tôn luôn luôn xưng tán hạnh tinh tấn mới chóng hoàn thiện chứng Bồ Đề. 3) Tinh tấn lợi lạc hữu tình: như trên nói lợi ích chúng sanh có nhiều loại cần nên làm. Như thế hẳn tránh xa được tưởng nghĩ lo cho thân mình, phải dụng toàn phần không gián đoạn không bỏ sót, bình đẳng dung thông tương ứng mọi công đức. Không chậm, không gấp, không nghiêng lệch tu tập mới làm cho pháp nhiễm dứt trừ không sanh và cũng làm cho pháp tịnh phát sanh rộng lớn. Ba nghiệp thanh tịnh, ba huệ (17) tăng trưởng, không lìa, không lui sụt không hèn, không ngã mà tinh tấn dũng mãnh thực hành. Có lực, cần, dũng, kiên, mãnh mới không bỏ mất thiện pháp.

Dũng mảnh, ưa thích v.v… tu không biết mỏi mệt như cứu lửa cháy đầu mới mau dứt trừ phiền não. Pháp tùy pháp hành hộ mình lợi người, thiền định đều là nghe, suy niệm tâm duyên một cảnh. Đây có ba loại: 1. hiện pháp lạc trú thiền, có nghĩa là lìa phân biệt, hôn trầm, động niệm, tướng ái mới sanh khinh an, đẳng trì thiền. 2. Dẫn phát thần thông thiền có nghĩa đưa tới pháp thần thông - đẳng trì. 3. Nhiêu ích hữu tình thiền, nghĩa là làm lợi lạc nương pháp đẳng trì do nơi thiền định có thể dùng chú thuật trừ tai ách, trị nhiều bịnh nan y, trừ sạch sợ hãi; bố thí của cải và thức ăn uống, chế ngự phóng túng tạo nên việc lành. Thần thông như đã khuyên nhắc là biến hiện thậm chí phóng quang trừ dứt các khổ mà cũng có thể dứt trừ vĩnh viễn mọi chướng nhiễm nặng sâu. Huệ là đối với cảnh chọn giản đơn hợp lý có ba cách: 1) đối với sở tri theo cái biết chân huệ nghĩa là với vô ngã nghĩa hợp trong thắng nghĩa bình đẳng minh giác 2) đối với ngũ minh (18), tam tụ (19) diệu trí bao nhiếp trong đây nên chóng viên mãn trí tư lương giác 3) làm cho chúng sanh được nghĩa lợi huệ, tức là làm bạn trợ giúp thực hành quả diệu giác (20). Học pháp nội minh lấy tịnh huệ làm chỗ nương, hiện làm người si dẫn dắt giáo hóa kẻ phóng đảng, khuyên gắng người nhu nhược để an ủi khuyến khích họ tu tập. Thứ nữa cần tu bốn pháp nhiếp hóa như: 1) Bố thí: như trên đã nói rõ 2) Ái ngữ: thường nói lời vui đẹp ý người, chân thật đúng pháp – nói lời dịu ngọt dễ nghe, tránh lời dèm pha chế giễu. Trước hỏi thăm sức khỏe tùy đó an ủi phủ dụ người; thấy có điểm mạnh không tự biết nên phải biết đó để mà hoan hỷ. Thuyết giảng Phật pháp cho người thường vì sự lợi ích chung. Đối với tự thân gặp oán thù nên giữ tâm bình tĩnh; với người tâm si mê nghĩ mong sao dứt trừ nghi hoặc. Đối với chân phước điền, dua dối, ác hành đều không ghim giữ mà phải nói lời ái ngữ. Muốn dứt trừ những chướng ngăn trước tiên là dùng lời ái ngữ; kẻ tâm thuần thiện vì họ nói pháp, người nhiều phóng túng khuyên bảo khiến từ bỏ. Kẻ còn nghi ngờ phân tích rõ chỗ phải quấy giữ bốn tịnh ngữ (21), theo tám thánh ngữ (22). 3) Lợi hành: do ái ngữ nên bày tỏ lý chân thật, theo sự hiểu biết bằng lòng thương vô nhiễm khuyên dắt người, điều phục tạo sự an lạc để làm cho hiện đời được tài lợi, về sau thuận duyên xuất gia được lìa dục, nhẹ nhàng giải thoát. Quen gần bạn ác chưa gieo được nhân lành, tham chấp giàu sang địa vị vô cùng phóng túng; chấp mê ngoại đạo tà kiến, bài xích thường khởi tám điều trói buộc (23), mười nghiệp ác (24) v.v… Đối với người như thế, thảy đều có thể thông cảm mà khởi tâm đại bi thương xót. Tuy thọ vô vàn sự khổ mà tâm không hề mệt mỏi vẫn luôn luôn giữ niệm hoan hỷ. Dù được địa vị, của cải cao sang tột bực mà tự khiêm hạ như kẻ tôi đòi, như hạng Chiên Đà La (hàng nô tỳ), như người con hiếu thảo v.v… không nhiễm, không gian dối, chân thật hết lòng để tâm thương xót luôn không dứt. 4) Đồng sự: người cùng hợp tác chung việc đem sự lợi ích khuyên lơn như họ cùng nhau học tập, dạy người biết chia xẻ trong phận sự. Thiện niệm kiên cường không sanh lòng lui sụt làm cho họ phải nhớ mãi điều này. Việc này dạy ta đạt nhiều lợi lạc, người khác tự làm chẳng phải chỉ nói suông. Nếu anh đã bất thiện làm sao có thể dạy tôi được; hơn nữa chính tôi đối với người khác, cũng phải làm như vậy. Việc tiếp nữa là cúng dường Tam Bảo, trước nhất là cúng dường hiện tiền Phật như Xá Lợi và cốt tượng v.v… thân cận cúng dường 2) Cúng dường mười phương ba đời chư Phật, Phật tượng bằng tâm tưởng mà không phải cúng dường Phật hiện tiền 3) Đối Phật hiện tại lại nghĩ như thế này: một pháp thân Phật tức là ba đời mười phương chư Phật; pháp thân là pháp tánh nên ta nay cúng dường một pháp thân Phật hiện tiền là cúng dường 10 phương ba đời tất cả chư Phật, nên việc làm hiện không phải là cúng dường chỉ Phật hiện tiền. Sau khi Phật diệt độ như tạo một hoặc nhiều hình tượng Phật để cúng dường, hẳn được vô lượng công đức. Nhờ đại phước đức này mà trong vô số kiếp không đọa vào ác thú, cũng như đủ tư lương đạt đến vô thượng Bồ Đề. 4) Đối với tự thân cúng dường chỉ nên đúng như thế. 5) Nếu khởi lòng thương tùy sức đem của bố thí cho kẻ nghèo khổ mong họ được an lạc khiến họ cũng nghĩ về pháp cúng dường.  6) Cúng dường các thứ không thiếu 7) Đem hoa hương lễ bái cúng dường cho đến châu báu, vật quí v.v… cúng dường 8) Đem ngay của cải cúng lâu dài với tâm hoan hỷ nhẫn đến thành tâm hồi hướng Bồ Đề nên cần cúng dường rộng lớn 9) Không đem lòng khinh mạn, kiêu ngạo, phóng túng, không cúng đồ bất tịnh v.v… mà phải cúng với tâm vô nhiễm. Lượng sức với của của mình mà đem cho người khác cần đến, phát nguyện hóa hiện trăm nghìn thân cung kính lễ bái. Mỗi một hóa thân đưa ra trăm nghìn cánh tay rãi hoa thơm cúng dường, phát vô số âm thanh ca ngợi công đức, và cùng vô số đồ tốt trang nghiêm dâng hiến cúng dường. Ở cõi Thiệm Bộ Châu (Nam Diêm Phù Đề) cho đến khắp 10 phương đều có cúng dường chúng sanh để được hoan hỷ. Dù ít dụng công mà công đức cúng dường thật là vô lượng, vô biên, nên khởi thiện tâm, tâm hoan hỷ tinh tấn tu tập. 10) Nếu được một chút phước đức từ bốn vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) nhẫn trong giây lát tín nhẫn, lìa dứt nói năng đạt pháp tánh chân như, khởi niệm vô phân biệt, trụ tâm vô tướng tức là giữ gìn tịnh giới Bồ Tát vững an tu hành bốn pháp nhiếp hóa… Nên nghĩ tới sự chánh hạnh cúng dường, đây là cách cúng dường cao quí tối thượng, hơn cách cúng dường trước gấp trăm nghìn vạn lần không thể sánh ví được. Lúc cúng dường nên suy nghĩ rằng, Phật là ruộng phước lớn đầy đủ đại ân đức, là bậc tôn trong chúng hữu tình rất khó gặp, duy nhứt xuất chúng là nơi y chỉ nương tựa. Đối với pháp, đối với Tăng việc cúng dường nên suy nghĩ tùy nghi cũng như vậy, hẳn đạt phúc lớn nói không thể hết. Kế nên thân cận thiện hữu, giữ giới không phạm khuyết, đa văn tu niệm, ai mẫn, vô úy (không sợ hãi), kham nhẫn chịu đựng, không mỏi mệt, lời lẽ khúc chiết rõ ràng gọi là người thiện hữu. Có kẻ tới xin nên ban cho đối với việc này nên biết rõ tùy lực mà khéo thay đổi làm lợi lạc không bỏ mất đại bi tâm. Không bè đảng mà là thiện hữu, việc làm không dối, oai nghi đầy đủ, ngôn hạnh bao dung không kiêu căng, không ganh ghét; cần kiệm tích giữ tùy đó xả, đó là thiện hữu đáng tin cậy. Đưa việc bàn thảo khiến cho bạn luôn ghi nhớ, dạy bảo, khuyên nhắc để thuyết pháp cho bạn nghe. Đó gọi là thiện hữu sanh chỗ nào cũng kết làm bạn thân thiết. Bạn có bịnh hay mạnh khoẻ phải luôn yêu kính giúp đỡ hỏi thăm, tiếp đón nên hòa nhã đúng phép. Bốn sự vật cúng không thiếu sót, hợp thời cung kính phụng sự, hỏi đáp từ tốn là cách thân cận cúng dường. Kế nói đến cảm thọ của pháp giới chúng sanh gồm ba loại: 1. Xả thọ: không khổ không  vui  2. Khổ thọ: thọ toàn khổ  3. Lạc thọ: thọ thuần vui. Đối với ba cảm thọ đây gồm đủ từ-bi-hỷ-xả mà chúng sanh trong mười phương trước nhất mong cầu lạc nên làm cho hữu tình đó biết không làm sao có cái lạc ấy, đó là chúng sanh duyên từ, duy chỉ tưởng pháp mượn thuyết cho chúng sanh gọi là pháp duyên từ. Lại đối với vạn pháp lìa phân biệt tưởng là vô duyên từ. Với người thọ khổ muốn nhổ sạch khổ nên phải có chúng sanh duyên bi, với người thọ vui nên vui với cái vui ấy là chúng sanh duyên hỉ. Với người không khổ không vui khởi tâm lìa bỏ tưởng lìa si, với người bị khổ khởi nghĩ lìa sân, với người vui khởi nghĩ lìa tham, bình đẳng v.v… muốn làm họ xa lìa các hoặc nghiệp nên gọi là chúng sanh duyên xả; ngoài ra giống như trên. Trong ba tâm vô lượng: tâm từ chung cho ngoại đạo, tâm bi chung nhị thừa, tâm xả chỉ riêng Bồ Tát có. Trước là ba sự an lạc, sau là một lợi ích, thứ đến phải có tâm biết hổ thẹn. Nếu có ứng tác nhưng không theo, hễ theo thì không ứng tác. Đối việc che giấu xấu ác của mình, mình nên sửa đổi bèn đeo đuổi chẳng bỏ, phải nhìn lại tự thân biết xấu hổ làm điều phi pháp. Kính tôn hiền thánh, quí trọng thiện pháp nên khởi tâm xấu hổ. Ngoài nhìn lại dòng đời xấu hổ với ác danh, khinh miệt, hung tàn, đểu giả, ác gian mà khởi tâm tự thẹn. Kế nên giữ lực vững chãi, ngăn chặn tâm nhiễm chớ lao theo mà bị mê chuyển. Dù gặp thống khổ phải tu hành hẳn thoát khổ, sợ hãi, không làm nao núng mà dũng mãnh kiên trì tánh đức bền chặt. Thứ đến quán thế gian mạng sống nhớp nhơ, chúng sanh bẩn thỉu, phiền não bức bách, kiến giải (chấp) hẹp hòi và kiếp đời chìm nổi lênh đênh bất định để xa lìa và đem lòng thương xót. Thấy việc thành hoại nên nghĩ vô thường, quán trong thân ta sáu ngoại giới kết hợp giả lập thành danh tánh nên không bền chắc. Với người cao niên kỳ lão nên tôn kính hỏi han xem như bậc cha mẹ; cả hai bên cùng nhau an ủi, luận bàn xem như anh em. Với kẻ thấp kém hèn hạ lấy lời từ ái khuyến khích xem như bạn trai, bạn gái mình. Tiếp bực tôn quí, xử kẻ hèn kém không phân biệt đối xử mà phải bao dung tùy thuận tiếp mời. Như với kẻ quen biết hay không quen, có bịnh, không bịnh, nghèo giàu, sang hèn xem tất cả đều là bằng hữu, không oán thù không hẹp hòi. Giả như có vi phạm trọn không đến nỗi trầm trọng đừng khiến cho trong phút chốc sống trong sự bất an. Lìa bỏ 14 chỗ nhơ bẩn ẩn trong sáu phương, xa lánh bốn thứ ác hữu, thu phục bốn loại thiện hữu, phân chia của bình đẳng; vật của người chẳng nên đoái hoài. Quán xét của báu là vật đổi chác, nếu kẻ không biết  không nên chấp.

Kế đến tu bốn pháp nương tựa: 1. Y nghĩa bất y ngữ: mong hiểu rõ nghĩa mà không nô lệ câu văn của nguyên gốc. Khởi tâm yêu kính. 2. Chỉ nương nơi pháp mà không y theo kinh nghĩa rốt ráo nên không khởi niệm ngờ vực 3. Chỉ y trí mà không y thức: là nghĩa quyết định nói chung. Bốn vô ngại giải, cho chí bốn pháp thiền định, 32 tướng tốt cho đến hết thảy diệu trí đều là pháp Bồ Tát cần phải học 4. Y pháp bất y nhơn: đem thân, miệng, ý làm lợi lạc cho chúng sanh trong mọi thời tâm luôn hoan hỷ không đổi thay, không làm tổn hại; chỉ thấy công đức chân thật thanh tịnh, thiện tâm quyết định không sợ hãi, khiếp đãm v.v… mà tất cả phải làm cho được hiện thực. Tu phép quán bất tịnh nhẫn đến 37 pháp trợ đạo Bồ Đề; Bồ Tát tuy tu riêng không như nhị thừa mà không chứng đắc như kinh nói. Thứ đến phải phát nguyện, phát một nguyện bao hàm tất cả nguyện, có nghĩa là hàm nơi chánh pháp, lại có 3 nguyện: 1. đời đời sanh ra được gặp chánh pháp 2. Tâm không che giấu vì chúng sanh thuyết pháp 3. Bỏ thân mạng, của cải để hộ trì chánh pháp. Lại còn có bốn nguyện: 1) Người chưa thoát khổ mau thoát khổ 2) Người chưa được an lạc chóng được an 3) Người chưa phát tâm dứt ác tu thiện liền phát tâm 4) Người chưa thành Phật sớm được thành Phật. Ngoài ra cũng có 5 điều nguyện: 1. Phát tâm cao thượng nguyện đạt vô thượng Bồ Đề. 2. Nguyện tái sanh: nguyện sanh vào cõi thiện để được lợi lạc cho mình và người 3. Nguyện tu thiện nghiệp: nguyện nghĩ chân chánh chọn pháp tu các thiện nghiệp 4. Nguyện đúng: nguyện thấu tỏ hết thảy công đức của chư Bồ Tát hoặc chung hoặc riêng nguyện đúng sở hữu (những gì do ta chăm sóc). 5. Đại nguyện: trong đây còn có 10 điểm khác nhau: nguyện phải được cúng dường đồ cao trọng đến chư Phật, nguyện hộ trì chánh pháp và góp phần truyền bá không để bị gián đoạn, nguyện được như chư Phật tám tướng hiện ra đời(25), nguyện tu hết thảy hạnh Bồ Tát, nguyện giáo hóa hết thảy chúng sanh thuần thục, nguyện ở các thế giới đều có Phật thị hiện, nguyện tịnh tu tất cả Phật tuệ, nguyện cùng chư Bồ Tát hướng đến Đại Thừa, nguyện quyết tu hành không lui sụt, nguyện mau chứng Vô Thượng Bồ Đề; muốn làm cho sự tu tập đạt kết quả rộng sâu nên tu mỗi một hạnh đều phát nguyện này. Như đã nêu trên tất cả hạnh nguyện 40 tâm đều dung thông trong sự tu tập rất rành rõ. Có vị tu riêng biệt lúc đầu mới phát tâm nương mười học pháp, sau cúng dường chư Phật, tán thán chư Bồ Tát, tâm hộ trì chúng sanh, thân cận người hiền đức, ca ngợi tâm không lui sụt, tập tu công đức như Phật, nguyện sanh đời gặp Phật, tu thiền định, lìa bỏ sanh tử, vì khổ quy y(26). Lại còn phải tu thập lực(27), ngoài thứ lớp như đây còn cả 20 pháp riêng khác để tu tập, như trong kinh có đề cập. Song các thứ vị tu đây phần nhiều tu tán hạnh, một số ít cũng tu định vị điều phục tâm, để nhập gia hạnh vị. Trong các pháp phương tiện trên, truớc tu ba môn tam ma địa (thiền định) nghĩa là hữu chẳng phải hữu, có là không, không là có của danh nghĩa. Ta và cái của ta là phi hữu, ở trong sanh tử vọng chấp chấp đó gọi hữu là điều trái ngược. Tu thiền định vô nguyện nơi Niết Bàn viên thành chánh nguyện vô vi an lạc, tu vô  tướng tam ma địa (samadhi) nơi ngã, cái thuộc ta, tánh tùy thuộc chẳng phải hữu mà đó là vô nguyện, vô vô nguyện nên tu tam ma địa không. Song đây nếu chỉ nói không, vô nguyện dung thông tới hữu vô lậu(28) nơi pháp thiền định tam huệ. Pháp tam ma địa thông với hữu vô lậu duy chỉ tu không tán loạn. Cho rằng giải thoát môn chỉ là vô lậu cũng phải tu không tán loạn. Ở phẩm vị này chỗ tu chuẩn phải hoàn tất, kế tu bốn pháp ấn (ốt tha nam) là muốn làm cho chúng sanh được thanh tịnh giải thoát. Bốn pháp ốt tha nam là: 1. Quán chư hành đều vô thường, có sanh ắt phải có diệt 2. Quán vô thường đều là khổ, và đều vô cùng bức ngặt  3. Quán tánh Niết Bàn vắng lặng, để lìa các sự khổ vây buộc  4. Quán các pháp vô ngã, không có chủ tể nên cần thực hành pháp phương tiện. Kế đến ở gia hạnh có noãn, đảnh, 2 vị tu bốn pháp tầm tư, tới nhẫn vị, thế đệ nhứt tu bốn như thật trí, tức là vô tướng, vô ngã, thuận tu năm tâm vô lượng(29) khởi hạnh lợi tha, vì lợi lạc chúng sanh. Trước quán 64 loại hữu tình y xứ thọ sanh, kế tiếp quán 10 phương thế giới khác nhau, chúng sanh tại mỗi nơi có nhiễm tịnh đủ cả. Và nữa quán các thiện pháp nhiều sai biệt mà trong đó chúng sanh kham chịu nỗ lực tu tập để giải thoát mọi sự khổ. Cũng quán 55 loại để điều phục sự khác biệt mà quan trọng do pháp phương tiện khéo khiến chúng sanh được giải thoát. Lại cũng quán pháp phương tiện tùy thích ứng để điều phục, ở gia hạnh vị tu hai pháp lợi: ở sơ địa dùng pháp vô lậu quán chiếu đạt lý chân gọi là thấy chân tướng, không thiếu hạnh tán tu. Như lối đi tắt nên biết cách thức ra sao, từ sau vị này nơi thập địa phải tu mười thắng hạnh, dứt 10 trọng chướng, chứng 10 chân như. Mười thắng hạnh gồm 6 pháp lục độ: bố thí, trì giới v.v… thêm vào phương tiện, nguyện, lực, trí độ, hết thảy diệu hạnh đều bao hàm trong đó. Pháp phương tiện  thiện xảo  gồm 12 loại: tâm biết thương tưởng, biết rõ chư hành vô thường, vui với diệu trí Phật, vui nơi sanh tử không nhiễm luân hồi, tinh tấn như chữa lửa, sáu cách này là ở trong khiến dùng một thiện căn mà đạt kết quả rất lớn, dùng lực ít nhiếp phục đại căn lành. Kẻ ghét thánh giáo khiến dứt trừ tức bực, kẻ đang trong thứ vị tu làm cho họ hướng nhập, người được hướng nhập làm cho họ thuần thục, kẻ đã thuần thục khiến họ được giải thoát, đây là sáu cách ở ngoài. Mười hai pháp trên gom chung thành hai: 1. Hồi hướng 2. Bạt tế (giúp trừ hết khổ). Nguyện có năm đây nói chung phân thành hai: 1. cầu Bồ Đề 2. thực hành lợi tha. Thập lực nêu chung bao hàm hai pháp: 1. Tư trạch (nghĩ chọn pháp tu) 2. tu tập trí, thông suốt các pháp đạt trí sáng suốt (tịnh trí). Trong tịnh trí có phân hai: 1. thọ pháp an lạc 2. thành thục chúng sanh, như trên nói bố thí v.v… các hạnh; chỗ tu hàng thập địa còn vượt xa hơn thế nữa, nghĩa là mong thân thể và các cơ phận toàn vẹn để được tâm vô nhiễm, nhưng cũng còn tùy ước muốn của hành giả. Nếu mong cầu quá dù đem trăm nghìn thân mạng bố thí cũng không thỏa mãn kẻ xin. Tâm bố thí nếu thanh tịnh có chúng sanh tới xin từng phần cơ thể nên thể hiện lợi lạc thuận cho. Cho dù gặp chúng ma quấy phá lung lạc hay kẻ si cuồng nhiễu loạn chọc tức cũng không nên phản ứng. Nếu kẻ hám thực nhai nuốt mạng chúng sanh cũng nên cho họ ngấu nghiến mà bố thí cho xong. Tất cả niệm nghĩ ân nhân thân thuộc chưa trả, dù hiểu rõ như thế; người mong muốn hung hăng tệ ác muốn vợ con tôi tớ đem làm nô lệ thảy đều không cho; trái lại những việc nêu trên nên thực hiện ban ân bố thí. Thà phạm tội đọa địa ngục quyết không làm trái nghịch thiện tâm. Xét nghĩ suy tư việc gì phi pháp bất thiện nên thống thiết hổ trẽn thương tâm đoạn dứt. Phán đoán xem bạo ác tìm cách phá trừ dứt. Phi pháp chừa bỏ, trộm cắp đoạt của người tùy trường hợp hoàn lại. Những gì không thuộc về mình mà đang tâm mong chiếm hữu cho được không phải là người phạm hạnh, nên tìm cách ban cho để thiện niệm tăng trưởng. Người xuất gia hành Bồ Tát hạnh nên hành như thế. Để trừ sạch nạn dối trá làm xa lánh bạn ác, nói lời ly gián càng che giấu đường chánh, bày lời thô ác dẫn tới cơ hội nói lời tạp nhơ. Nhờ tránh đó bèn sanh vô lượng công đức, hoặc hiện lực thần thông thấy chỗ đáng sợ trong loài ác thú làm cho họ thấy để từ bỏ hẳn tâm bất thiện, xấu ác. Nếu người không tin hỏi chẳng đáp, thấy tướng hiện thần thông làm cho sợ không tin, nên làm việc lợi hành để đạt được lợi ích. Như gặp khổ bức bách không nghĩ gì khác hơn là nên kiên nhẫn quán xét thấu đáo, mạnh dạn không mệt mỏi để có thể trụ trong kham nhẫn tới cùng. Nghĩ vượt qua 10 lực, chủng tánh, đẳng trì khi chết không bỏ lìa mà sanh lại cõi dục để tiếp tục tu hành thắng nghĩa, bình đẳng viên thành quả chánh giác. Do vậy, nên biết rằng các pháp vô ngã, đều theo phương tiện, các cảnh giới không ngăn ngại. Đối với công việc làm hoặc hiện thật hoặc ẩn do công đức của mình làm cho người đồng sự nhưng không hiển lộ; hay làm cho người sợ sệt sanh bực tức, đó không phải đồng sự mà tự khoa trương. Như thế việc thiện do tâm động niệm thể hiện trong đồng sự, nếu thái độ cẩu thả (phóng dật) cả hai đều sai. Trong pháp cúng dường cúng chư Phật bình đẳng nên đầy đủ trân báu, hoặc dùng thần thông hóa hiện vô số châu báu cho đến việc lễ bái, trì tụng, tán dương mười phương chư Phật là chân thật cúng dường. Tu trong vô số kiếp được bình đẳng trong loài hữu tình, rõ pháp tục - chân nên quyết lòng tu tập được tâm bi mẫn vô lượng cũng gọi là lòng đại bi. Gặp vô vàn các khổ vi tế cần phải tu tập lâu dài phát tâm dũng mãnh mới thật được thanh tịnh. Lúc dụng công tu tập như thế nên được tất cả bi tâm của Bồ Tát, được ý che chở tịnh lạc, nên đối với chúng sanh có ân đức sâu dày rất mực yêu thương không ngăn trở nên thay chúng nhẫn thọ. Thanh Văn đạt được cứu cánh Bồ Đề vẫn còn bị che tâm dày đặc, không như Bồ Tát thể hiện bi tâm trước nhất. Do đây việc huân tu trong ngoài không thiếu sót nên chẳng rời bỏ thậm chí diệu trí cũng không thể vào. Bồ Tát đạt Bồ Đề do tâm bi lập nên nên trong sanh tử kham nhẫn chịu mọi sự khổ bức. Lại trong thập địa mỗi địa tu riêng biệt, nghĩa là đầu tiên tu bố thí cho đến thứ mười có phép thần thông. Trong thập địa tùy theo sự thích ứng đều bao hàm thập hạnh, duy nói thập độ không tăng giảm như bài kệ rằng:

Ngăn phú quí cõi lành

Chẳng rời bỏ hữu tình

Với thất đức giảm tăng

Giải thoát hướng tới  thẳng

Bố thí việc thiện gắng

Liên tục không cách ngăn

Tạo thiện quyết định rằng

Thọ dụng pháp tựu thành

Mười loại ngăn chướng nhờ tu thập độ, thập địa đoạn dứt trừ vô minh; cũng có 10 chướng nữa là dị sanh tánh cho chí các pháp chưa tự tại còn bị ngăn chướng. Mười chân như gồm có: 1- Biến hành do đó được tự tha bình đẳng 2- Tối thắng hơn tu cùng hạnh xuất ly 3- Thắng lưu: cầu pháp không tiếc thân mạng 4- Không nhiếp thọ nhẫn đến ái cũng đều diệt hết 5- không khác loại, nhờ đây đạt 10 ý lạc, bình đẳng, tịnh tâm 6- Không nhiễm tịnh: rõ biết pháp duyên khởi không nhiễm không tịnh 7- Loại loại không khác: biết pháp vô tướng hợp khế kinh so với mọi tướng các pháp.   8- Tướng làm chỗ nương tự tại, do đây đạt viên mãn chứng vô sanh pháp nhẫn, không còn thấy có một pháp tăng giảm, nhiễm tịnh 9- Trí là chỗ nương tự tại: thành tựu đạt trí hiểu biết vô ngại 10- Nghiệp làm chỗ nương an ổn (tự tại) do tâm ưa thích khiến làm việc lợi lạc nên chư Bồ Tát phải dùng bốn tướng này tu trước các hạnh. Bốn tướng đó là: 1) Tu thiện: quyết định luôn luôn chắc chắn tu tập không gây tội 2) Phương tiện: làm nhiều người được lợi lạc, giữ đúng giới luật đã thọ nên thành tựu hợp căn cơ thuyết pháp. 3) Làm lợi ích: có thể đem lợi lạc cho người theo từng trường hợp chung hay riêng 4) Hồi hướng: ba pháp trên tích chứa từ đời trước tới đời này gặp được thiện liền bám chặt để thành một vị tín tâm thanh tịnh, hồi hướng Bồ Đề mà không do dư báo đời trước. Nên đem bảy tướng ấy thương tưởng chúng sanh khiến không còn sợ hãi để khuyến khích học chân lý không biết mệt mỏi. Không đợi người cầu thỉnh, cũng không sợ viễn vông, gặp hại không xa lánh, bình đẳng vô song, làm được như thế xứng đáng gọi là học pháp. Ba đời chư Bồ Tát khuyến tu các pháp này nên hiện tại từng chứng vô thượng Bồ Đề cũng không tăng giảm. Những người xuất gia xa lìa thân quyến, từ bỏ sự nghiệp, thường tu phạm hạnh cho tới lúc hoàn toàn giác ngộ viên mãn. Trụ nơi tịnh giới nói năng không làm mất niềm tin của người Phật tử tại gia  không giới đức; thật là cao quí thù thắng biết bao!

 

Hết quyển nhất

 

 

Quyển nhì

 

Biết chỗ học pháp như thế là hợp với sự tu tập; tướng gì thành tựu tu học? Gieo trồng các hạnh tu đầy đủ 12 pháp trụ, thâu nhiếp cùng chư Bồ Tát khắp cùng; sau mới đạt được vô thượng Bồ Đề ở pháp trụ thứ mười ba viên thành Phật quả, như bài kệ:

Chủng tánh, thắng giải hạnh

Thuần vui giới thực hành

Ba huệ tâm chí thành

Vô tướng có dụng công

Vô tướng không công dụng

Với vô ngại giải rành

Bồ Tát trụ cao thanh

Tối thượng Phật xưng danh

12 trụ tâm là: 1. Chủng tánh trụ: do chưa phát hướng đến Vô Thượng Bồ Đề, với các trụ khác chỉ có nhân chuyển, tướng như trên đã nói 2. Thắng giải hạnh trụ: từ mới phát tâm đến sơ địa, do tướng tu trước trụ ở đó, tuy được tịnh vì đã định nên cần phải tu chánh hạnh. Khởi huệ phân biệt khuyến tấn tu tập cần khổ hạnh chậm thông khích lệ giảng pháp; tùy lực có thể đạt thành chánh giác, lợi lạc hữu tình. Đối với các hành nói trên hầu chưa học rộng nên các tướng chưa thành, tâm lạc chưa thanh tịnh 3. Cực hoan hỷ trụ: tức là sơ địa, như phẩm trước nói rõ với 10 đại nguyện được viên mãn, từ đó chuyển thành ý lạc thù thắng, qua khỏi dị sanh địa đạt đến ly sanh tánh, sanh giòng giống Phật thành chân Phật tử làm hưng long Phật pháp được  bình đẳng. Dứt bỏ các mối tranh luận có phương hại đạt được pháp tịnh chân thật. Biết ta gần tới tuệ giác chứng lý nhị không thành hai diệu trí, sanh tâm đại hoan hỷ thực hành 10 pháp tịnh trụ nghĩa là tín, từ bi, huệ xả, không mỏi mệt, biết các luận, hiểu thế gian, biết hổ trẽn, lực kiên cố, thọ trì, cúng dường chư Phật, nơi chín pháp trụ chuyên tu tinh tấn cầu đạt thành. Phần nhiều làm vua chuyển luân thánh vương (30) thống trị châu này chế phục xan tham nhẫn đến muốn thành bậc tối tôn, để làm nơi nương tựa cho chúng sanh được nhiều phước lợi; hoặc ưa tinh tấn tín tâm xuất gia tu trong chớp nhoáng ngộ hàng trăm pháp Tam ma địa (Samadhi: Thiền). Dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy các Phật quốc và hằng trăm đức Như Lai hóa hiện đi ở đều hiểu rõ. Thần lực vận đến hàng trăm cõi Phật và thân cũng có khả năng phóng hào quang sáng rực cùng khắp khiến người trông thấy, làm nhiều điều lợi lạc cho vô số chúng sanh. Như muốn lưu thân tồn tại hằng trăm kiếp và chứng kiến đời trước đời sau những việc đã diễn ra trong cả trăm kiếp. Ngộ hằng trăm pháp, hóa hiện nhiều thân đều có khả năng hiện trăm vị Bồ Tát quyến thuộc. 4. Tăng thượng giới trụ: là ở đệ nhị địa, do 10 ý lạc thanh tịnh nơi hoan hỷ địa trên mới vào đến vị này, tánh giới đầy đủ. Tới đây không còn phạm giới, tạo các ác nghiệp nữa, ít tà chấp, huống người đạt phẩm trung phẩm thượng hay biết rõ nhân quả nghiệp tạo tác thế nào. Tự hành và cũng khuyên người hành thiện nghiệp, nơi chúng sanh khổ đặc biệt thương giúp nghĩ tới tận tình, thấy rõ thiện căn chư Phật thanh tịnh. Phần nhiều làm vua chuyển luân cai quản bốn châu (31) thiên hạ; ngưng là phạm giới, bao nhiêu oai lực giảm 10 lần hơn trên. 5. Tăng thượng tâm trụ là đệ tam địa, do đệ nhị địa trước hiểu rõ thông đạt; lại nhờ 10 tâm thanh tịnh mà vào được địa này nên có thể hiểu được các hạnh chúng sanh đạt đại giác, cũng chính là tìm cầu thoát khổ; phương tiện trừ phiền não buộc không còn chướng ngại nữa. Pháp giới thanh tịnh không còn tuệ phân biệt, thấy được điểm này là đạt được tam ma địa (thiền định). Đối với Bồ Tát địa tinh tấn đa văn không tiếc thân mạng, xả bỏ những gì yêu đắm. Không có sư trưởng (Thầy dạy), không mong phụng sự mà lời khuyên bảo đều nguyện vâng làm, thân nguyện chịu khổ. Chỉ được nghe một bài kệ còn hơn của báu đầy trong cõi đại thiên(32). Nghe một câu Phật Pháp có thể dẫn đến hành hạnh Bồ Tát chứng thành Phật quả, hơn cả các trời Đế Thích, Phạm Thiên, Hộ Thế v.v… Giả sử có kẻ bảo rằng, ta có một câu pháp có thể tịnh tu hạnh Bồ Tát thành bậc chánh giác, nếu nhà ngươi nhảy vào được hầm lửa đương cháy bừng ta sẽ vì ngươi mà thuyết. Bồ Tát hoan hỷ phấn khởi nói làm được, chính đó là hầm lửa trong 3000 cõi vì muốn nghe pháp nên ta từ trời Phạm Thiên mà nhảy vào huống gì là hầm lửa nhỏ. Vì cầu Phật pháp lâu dài trong đại địa ngục mà còn ra khỏi, huống là trong các khổ không đáng kể khác. Nghe pháp theo đó nên thực hành pháp có thể trong đời mà được hết vắng lặng này đến thiền định khác; trở lại xả bỏ tất cả tùy nghiệp mà đầu thai được làm trời Đế Thích, Thiên Vương giáo hóa làm kẻ khác đoạn tham dục, oai đức gấp trăm nghìn lần hơn trước. 6 giác phần tương ưng, tăng thượng huệ trụ là đệ tứ địa, do trước cầu đa văn đạt 10 pháp nên hiển nhiên vào được địa này mà được 10 trí thành thục. Tu các pháp trợ đạo Bồ Đề(33) dứt kiến chấp tà và mọi chấp trước. Lìa bỏ nghiệp hủy hoại (ác nghiệp), tu tập thiện nghiệp, tâm tánh điều hòa đạt được công đức viên mãn, an trú tầm cầu tu tập đạo nghiệp giải thoát. Tâm an lạc viên mãn hơn hẳn tánh giới nên thánh giáo, giặc oán không lay chuyển lung lạc được mà làm vua trời Tô Dạ Ma trừ dứt kiến chấp tà, oai đức gấp vô số lần hơn trước. 7. Các đế tương ưng tăng thượng huệ trụ là đệ ngũ địa (địa thứ năm), do 10 môn bình đẳng ý lạc thanh tịnh trên mà được nhập địa này. Lấy 10 pháp phương tiện quán xét mọi sự thật (chân lý) chính là bỏ các hành, thương tưởng chúng sanh, giữ gìn tư lương, cần tu chánh hạnh: niệm, huệ, v.v… đều được tăng trưởng, dứt bỏ hẳn mọi tác ý khác. Dùng các pháp phương tiện hoàn thiện chúng sanh, mọi công trình mỹ thuật đều được thực hiện tốt để làm được sứ trời, vua trời hóa hiện bỏ các tà pháp trong ngoài. 8. Duyên khởi tương ưng tăng thượng huệ trụ là đệ lục địa (địa thứ sáu), do tu tập 10 pháp bình đẳng tánh trên mà nhập địa này. Ngộ các pháp duyên khởi đạt đến giải thoát, mọi tư tưởng tà không thể hoạt động, vì lợi lạc chúng sanh mà ở trong sanh tử. Trí, Bi thành tựu không bị chướng ngăn; tuệ giác siêu việt rốt ráo hiện ra trước mắt, ngộ được nhiều pháp thiền định tam ma địa cao tột. Tâm hoan hỷ chẳng hư hoại, ngoài ra không chi xâm lấn được cả để làm trời Diệu Hóa, Thiên Vương hiện ra trừ dứt tâm tăng thượng mạn, oai đức gấp vô số trăm nghìn lần hơn trước. 9. Hữu công dụng vô tướng trụ là đệ thất địa, do 10 pháp phương tiện khéo trên dẫn lối người tu thắng hạnh mà được nhập địa này. Tu tập đạt tới cảnh giới Phật vẫn không gián đoạn thiếu khuyết, mỗi mỗi sát na ngộ được thập độ, pháp Bồ Đề phần, tu gia hạnh vị hết thảy được thanh tịnh viên mãn ở địa trước dẫn đến do có nhiễm, trí xảo diệu đủ vượt cả thiền nhị thừa. Niệm niệm có khả năng nhập diệt tận định (34) mà Bồ Tát thể hiện kham nhẫn nghiệp kỳ lạ, được làm vua trời Tha Hóa Tự Tại; có thể thọ pháp, hiện quán phương tiện của nhị thừa, oai đức gấp trăm nghìn vô số lần hơn trước. 10. Vô công dụng vô tướng trụ là đệ bát địa, do trước 10 loại nhập pháp đệ nhứt nghĩa (35) đủ trí nhập địa này. Về trước đã tu bốn như thật trí, nay được thanh tịnh đạt vô sanh nhẫn (36), đoạn dứt bốn tai họa ái sâu dày, mong chư Phật soi sáng dẫn đạo dạy khuyên vô lượng pháp để phát trí tuệ đạt sự nghiệp thần thông, chứng nhập vô số phân thân diệu trí được 10 pháp tự tại, thọ nhiều lợi lạc được làm vua cõi trời Sơ Tịnh Lự thiên, chóng nhập địa này trong khoảnh sát na thứ nhất. Nhờ đủ hai phần phước, trí tất cả oai lực đạt được hơn một lần các địa trước; sát na thứ hai hơn hai lần trước, đến thập địa được tăng gấp nhiều lần viên mãn nói không cùng tận. 11. Vô ngại giải trụ là đệ cữu địa (địa thứ 9) do ở địa thâm sâu trước không sanh tâm hỷ đầy đủ, lại đối với tánh ái lạc mạnh hơn tùy nhập mà khởi trí gia hạnh nói các pháp yếu. Công cuộc thuyết pháp do như thật trí mà thành bậc đại pháp sư đủ trí vô ngại được làm vua cõi trời đệ nhị Tịnh Lự thiên. 12. Tối thượng thành mãn Bồ Tát trụ là đệ thập địa (địa thứ 10), như trên trí vô ngại giải hoàn toàn được thanh tịnh kham chịu làm bậc pháp vương (37) thọ pháp quán đảnh (38) được lìa cấu nhiễm v.v… vô lượng giới hạnh làm những gì Phật đã làm, đạt đủ Phật tướng, hợp thời tỏa ra đến quyến thuộc, phát hào quang rực rỡ làm lợi lạc mọi loài chúng sinh. Với diệu trí làm Phật sự chóng được vô lượng giải thoát đà la ni, thần thông, đại nguyện v.v… vô số công đức được làm vua cõi Sắc Cứu Cánh, Đại Tự Tại thiên. Bồ Tát đạo hoàn thành tư lương cụ bị, từ đám mây lành của Phật nhận được đại mưa pháp mầu nhiệm. Cũng như đám mây lớn xuất hiện mọi người đều biết rưới cơn mưa pháp nước mưa quét sạch bụi dơ làm cây cối nẩy mầm sanh trưởng trổ hoa kết trái. Các địa cũng vậy, ở mỗi địa chỗ đoạn trừ, chỗ tu tập, chỗ đạt công đức không thể kể xiết. Nương mỗi địa mà được viên thành nên phải lập riêng biệt từng địa trụ hạnh thắng giải hướng đến vô tướng, chỗ tu hạn hẹp thấp có khuyết bất định, kế đến sáu địa sau tu đạt vô tướng, chỗ tu sâu rộng hẳn không khuyết. Hoàn thành bốn địa sau là đạt quả vị thanh tịnh viên mãn, chỗ làm đạt vô lượng, hạnh thắng giải(39) trụ thứ sáu tín tâm. Tín sanh tâm bất thoái, không mất thiện căn, trong thập trụ là tâm thứ bảy ở vị bất thối, không theo nhị thừa đến cực hỷ địa chỗ chứng đắc không lui sụt và hoàn toàn không quên sót nữa. Đến vô công dụng vô tướng trụ tu hạnh bất thoái, công cuộc tiến tu mong đạt chủng trí lợi lạc rộng khắp nên còn sót mê lầm làm trở ngại việc tái sanh; do đó nên không nói là đoạn phiền não được. Sanh có năm loại: 1) Trừ tai họa: do nguyện tự tại làm cá lớn giúp nạn đói nghèo, làm đại y vương chữa trị các chứng bịnh, làm người đại thiện xảo khéo giải hòa các tranh chấp, làm đại quốc vương theo đúng pháp liền hết khổ, làm đại thiện thần dứt sạch các tà kiến, làm lửa, làm nước, làm xe, làm thuyền, làm tất cả mọi vật để dứt trừ tai họa. 2) Tùy loài thọ sanh: mong được lực tự tại ở loài bàng sanh trong các ác thú chúng chuyên làm ác nhưng tự không làm, hoặc loài ác thú không làm thiện mà mình tự làm. Như vào quán rượu không uống rượu, vào dâm phòng không phạm giới, vì thấy được cái hại của dục. Vì đó giảng pháp giúp dứt lỗi lầm cho họ. 3) Sanh nhiều thế lực: bẩm chất khi sanh, tuổi thọ, hình vóc, vọng tộc giàu có hơn hẳn mọi người, nhờ đó dứt trừ lỗi lầm khinh mạn (khi dễ) của người khác. 4. Sanh nơi cao trọng (tăng thượng sanh) thọ 10 vương pháp, tự tại dẫn đạo sanh tùy nơi thích ứng. 5) Tối hậu sanh: Chuẩn bị tư lương rất sẵn sàng đầy đủ như Từ Thị (Di Lặc) sanh nhằm nhà Đại Quốc Sư dòng Bà La Môn, Phật Thích Ca sanh vào gia tộc đại quốc vương dòng Sát Đế Lợi mà tu chứng thành chánh giác làm mọi Phật sự. Lại còn lấy bốn tướng thu phục chúng sanh như: 1) Rộng dung tất cả từ sơ phát tâm trụ đã thu nhiếp hết thảy chúng sanh đều là quyến thuộc để tùy lực mà làm lợi lạc. 2) Tăng thượng: nếu là gia chủ phải ý thức ban ân huệ, hiếu dưỡng cha mẹ, vợ con v.v… tùy nghi cung cấp (dưỡng) cho người giúp việc không nên bức ép mà nên nhẫn nại kiên trì. Họ có bịnh phải chăm sóc trị liệu bằng lời an ủi cũng như lo cho chính bản thân, không sanh tâm phân biệt. Nếu là quốc vương không dùng dao gậy khí giới xử trị mà lấy luật pháp giáo hóa, đem của cải làm cho mọi người đều lợi lạc, y bổn thổ đất đai của xứ sở xử dụng mà không xâm lấn của người, xem mọi người như cha, như con. Lời nói phải thành thật không gian dối, khuyến khích mọi người nên bỏ ác và dạy họ làm những việc lành. 3) Nhiếp thủ (nghiêm thủ): bình đẳng không phe phái, không mong cầu danh lợi, không thừa hưởng ân huệ. Đồ chúng – những người đồng nghiệp – không nhiễm lợi lộc riêng, đứng đắn hướng dẫn tu tập, không hạnh tà mà thêm hại đó. 4) Tùy thời: chúng sanh có ba hạng: thượng, trung và hạ, phải biết quyền biến theo thời mới kham nhẫn chịu đựng mà làm công việc thu phục phải được thuần thục. Sau đây là trụ tâm ở đệ thất địa, đó là: 1. Chủng tánh địa 2. Thắng giải hạnh địa 3. Tịnh thắng ý lạc địa. Ba địa này trong ba trụ đầu 4. Hành chánh hạnh địa (là trụ thứ 6) 5. Quyết định địa là trụ thứ 10, rơi nhằm vào quyết định thứ ba. 6. Quyết định hạnh địa là trụ thứ 11  7. Đảo cứu cánh địa là trụ thứ 12 và 13, trong hai vòng nhân quả đều hoàn tất. Như trên đã nói các hạnh Bồ Tát, tuy vô số nhưng không ngoài bốn hạnh: a) Hạnh Ba La Mật Đa gồm 60 độ (thay vì lục độ) b) Bồ Đề phần hạnh gồm có 37 phẩm, bốn pháp tầm, tư và hết thảy diệu hạnh c) Thần thông hạnh gồm 6 phép thần thông d) Thành thục hữu tình hạnh là chỗ điều phục, phương tiện dẫn dắt nhiều vô số như trên đã nói. Như chỗ học xứ, hoặc chỗ học pháp, hoặc tự tu học Bồ Tát Hạnh một cách dõng mãnh như lửa nóng nương tựa tu học trên không thấy có hành tướng đó gọi là hạnh. Thực hành pháp như thế tại sao nói thâm sâu? Vì người tu hạnh thắng giải thuyết diệu lý thâm sâu không thể nghĩ bàn; hàng Nhị Thừa không thể hiểu được, phàm phu lại càng ngơ ngác, nên nói sâu vậy. Như đúng phải nói chân đế vượt khỏi trí, cảnh, ngôn ngữ, luận bàn, không đem ví dụ mà thí dụ được, mầu nhiệm khó biết đầy đủ 3 vô thượng và 7 đại tánh tự thể nó là lợi lạc và vượt hơn hết thảy. Pháp giải thoát như biển cả, diệu bảo, suối ao, không phải đại tuệ giác làm chủ pháp giới bởi không do tướng mà được, chỗ tu học như thế mới là sâu nên cần phải đạt đến. Đây là hết thảy hạnh Bồ Tát thật tướng chân như đều khó có thể ngộ được trọn vẹn, trí tuệ quán chiếu khó thể đạt thành lời dạy, văn tự khó thể nói hết, các pháp vạn hạnh khó thành tựu được, các cảnh giới hữu – vô khó thể thông suốt, lấy huệ làm đầu, ngoài ra tánh hoặc tư đều là tuệ giác nên hết thảy là sâu thẳm. Thế nào là thời? Vì người tu hạnh thắng giải nói: như thế tục tin chắc tu học mong đạt tới không, hoặc nương thắng nghĩa hiểu rõ bản thể pháp là không mà thực hành tuệ giác tu tập dần đạt tới rốt ráo gọi chung là thời. Như đúng phải nói: tuệ giác vô thượng rộng lớn cao sâu, không thể tu nhân mỏng cạn mà chứng đạt được như trên nơi 12 trụ tâm. Nếu tính hết mọi lúc trong ngày đêm trong mỗi một trụ tâm trãi qua vô số trăm nghìn đại kiếp, hoăïc hơn số đó mới trọn vẹn viên mãn. Nếu lấy một đại kiếp tính hẳn hơn số lượng tính toán mà gộp chung tu trãi qua ba vô số đại kiếp như vậy mới đạt được viên mãn. Trãi qua vô số đại kiếp thứ nhứt nơi mỗi trụ tu một hạnh nên chứng cực hỷ trụ, qua vô số đại kiếp thứ hai nơi mỗi hạnh tu hết các hạnh, đạt đến vô công dụng tướng trụ, được ý lạc thanh tịnh quyết định dũng mãnh; trãi qua vô số đại kiếp thứ ba trong mọi hạnh tu hết thảy hạnh đạt đến Như Lai vị. Hành giả tới vị này thường luôn tinh tấn chắc hẳn không thể không đạt được vậy. Người dũng mãnh như đôi chân sóng bước hoặc có thể chuyển hóa chúng sanh ở trung kiếp hoặc trong đại kiếp; kẻ quyết định không độ chúng sanh, không trãi qua vô số đại kiếp, nên biết rằng cái nhân quyết định phải tu hành trãi qua ba vô số đại kiếp đầy đủ mới chứng quả Bồ Đề. Năm loại bỉ ngạn (bờ giác) có thể đạt đến, ở đây lấy ý nói phải tu năm tuệ giác trãi qua ba kiếp, hoặc do tâm nguyện thay đổi thời lượng mà công việc đạt đến rốt ráo nêu chung gọi là thời. Như đạt không thời chỉ biết đúng theo trí, người đã có quá trình tu tập biết được những gì còn lại. Hàng Độc Giác căn tánh mẫn lợi mà còn phải tu trãi qua trăm kiếp huống gì người muốn làm Phật không tu nhân nhiều kiếp sao?

Kinh Bát Nhã có câu: “quán chiếu năm uẩn đều không”. Ở đây lời tán nói rõ: do thực hành miên mật trí Bát Nhã (tuệ giác) nên đạt được tuệ nhãn là đạt đến Không gọi là chiếu hay quán chiếu, nghĩa là sắc, thọ, tưởng v.v… các pháp hữu vi của ba đời trong ngoài, thô tế, hơn kém, xa gần tích tụ lại gọi là uẩn (chứa nhóm). Uẩn có năm món gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức  song song với lời nói, chỗ chấp xứ, các pháp v.v… Vì người tu hạnh thắng giải nói trước phá năng quán chấp có mới thấy rõ pháp quán Không, nay phá sở chấp (vật được quán sát) hiển lộ pháp quán Không.

Như si mê che mất thắng giải, nơi các uẩn vọng chấp thật có, như người trong giấc mơ thấy cảnh hiện ra trước mắt. Nếu như hiểu đúng sự thật thắng nghĩa hẳn không còn bám chấp, như người tỉnh cơn mơ biết rõ cảnh không thật nên thực hành Bát Nhã soi sáng tánh Không. Như đúng phải nói, dù tu pháp gì cũng phải thực hành Bát Nhã để rõ chân lộ vọng nhờ tuệ quán chiếu KHÔNG, nên ở đây chỉ nói một mặt. Pháp Không nói đây là 3 tánh Không, tức là biến kế chấp (giả lập) bản chất chẳng có tướng nên không (vô) tự tánh, do đó gọi là Không, tánh y tha khởi (tánh tùy thuộc), sắc tợ bọt tụ, thọ như bong bóng nổi, tưởng đồng nháng lửa, hành giống như cây chuối, thức như trò ảo, không giống như chỗ chấp Ta; bản tánh tự sanh nên cũng gọi là Không. Tánh tuyệt đối (viên thành thật) nhân quán chỗ chấp Không là không mới ngộ hoặc không giống như chỗ chấp chân tánh nên đạt chân thắng giải hay cũng gọi là Không. Y cứ sự thật ba tánh là chẳng không, không phải không không, vì để phá chấp Hữu nên ngầm nói Không, Không phải hai tánh sau Không mà gọi là Không. Nói hết thảy pháp Không là mật ý của Phật, đối với Có và Không nói chung là không như lời Thế Tôn dạy:

Thắng nghĩa không tự tánh tướng sanh

Do vậy như Ta đã chỉ rành

Nếu không hiểu mật ý Phật khuyên

Phá hoại chánh đạo chẳng thể thành.

Lại cái Không đây tức là theo lý chân như tự tánh, nó chẳng phải không có; nhờ chỗ không hiển bày, chỗ chấp cho là Có nên tạm gọi là Không. Người ngu không hiểu chấp 5 uẩn thật có nên khởi tướng phân biệt. Giờ tìm về bản thể chân như, sự lìa lý không bỏ tánh, đó đây như trong kinh cho rằng, tất cả chúng sanh đều có Như Lai tạng, hết thảy các pháp đều là Chân Như. Nói về hữu tướng tức là vô tướng Không làm cho chúng sanh đoạn tướng ràng buộc (trói buộc). Con mắt có 5 loại: 1. Nhục nhãn: mắt thịt của phàm phu không  định nên tạo vô số tịnh sắc.   2.Thiên nhãn: do định làm nơi khởi phát tạo vô số tịnh sắc. 3. Huệ nhãn: quán chiếu rõ lý Không. 4. Pháp nhãn: thông suốt giáo điển mà được tuệ minh 5. Phật  nhãn: bốn loại trước đã đạt thành và cuối cùng được danh hiệu Phật. Bây giờ nhân nơi huệ nhãn đạt pháp Không soi tỏ pháp quán nên gọi là chiếu kiến (soi sáng rõ). Song tánh Không đây ở tư lương vị lắng nghe suy lường phần nhiều là tin hiểu, đến Gia Hạnh vị mới chuyên vào việc tu quán, tuy cả hai đều gọi chiếu nhưng do mượn tướng nên chưa chứng được chân như. Nơi vị thập địa tu quán vô lậu thông tỏ chân lý mới thật sự quán chiếu Không. Đạt đến vị Như Lai quán chiếu viên mãn biết bỏ lời rời cảnh mượn gọi là Không. Tuy đây nói Không mà chung cả không Ngã Pháp như Ngài Xá Lợi Phất chỉ thuyết pháp Không. Ngã chấp lâu bị quên lãng không tạm gọi Không nên hoặc lại chấp ngã y nơi pháp chấp sanh khởi. Chỉ có cách quán pháp Không Ngã tùy thuộc Không. Không đề cập ở đây thể tuy không khác nhưng y sự hiển hiện cũng có sai khác. Như Kinh Đại Bát Nhã nói hoặc 16 không: nội không, ngoại không, nội ngoại không, đại không, không không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, rốt ráo không, vô tế không, vô tán không, bản tánh không, tướng không, hết thảy pháp không, vô tánh không, vô tánh tự tánh không hoặc nói 17 không thêm vô sở đắc không hoặc 18 không thêm tự tánh không, hay 19 không thêm: biệt gia sở duyên tăng thượng và hằng vô không, hay 20 không thêm, trong 18 không bỏ vô tán không lấy tánh không, vô biến dị không, bỏ tướng không lấy tự tướng không, cộng tướng không như giải thích sơ lược trong bài kệ sau:

Tự ăn và thức ăn

Đây nương thân tồn tại

Thấy chân lý không hai

Nhị đế Không cần phải

Làm lợi lạc hữu tình

Không lìa bỏ tử sanh

Tạo vô số việc lành

Nên quán đều không tánh

Vì chủng tánh tịnh thanh

Các tướng tốt đạt thành

Cho Phật Pháp hưng thạnh

Bồ Tát quán Không tánh

Pháp thường trụ thực hành

Thật chất phi hữu tánh

Chấp hữu tánh, vô tánh

Lập hai không chính danh.

Câu kinh tiếp theo: “vượt qua hết thảy mọi khổ ách”. Ở đây lời tán nói rõ, vì người tu hạnh thắng giải – giải Không – mà nói như trên sơ lược trình bày để phá hai pháp chấp làm rõ hai Không mới vượt qua các khổ: Đã quán chiếu soi rõ tánh Không lìa mọi phân biệt như con ngài thoát khỏi cái kén không còn bị buộc bên trong nữa, mới vượt qua mọi ách nạn khổ thống, chóng đạt Niết Bàn. Tuy nương thắng nghĩa không có vượt qua, không chỗ đạt đến nhưng theo thế tục thì có độ có đắc.

Như đúng phải nói, do quán rõ tánh không mới vượt sanh tử; trước tiên làm hiển phát quá trình tu tập lợi ích. Phương pháp thứ ba: pháp luyện tâm có nghĩa là quán chiếu chỗ thâm diệu khó ngộ, nếu như thoái chí cần phải tôi luyện tâm cẩn thận. Người thế tục chỉ bố thí sơ mà khi mạng chung (chết) còn được quả báo tốt huống gì nay ta tu tập cẩn trọng nghiêm túc, đời sau lại không vượt thoát khổ để chuyển sanh sao ! Như người tu huệ hẳn vượt qua mọi khổ ách, dứt phần trọng trược được cái không nhiễm nhơ, ta đây cũng như vậy. Ta phải tự khích lệ hơn lên tu tiến không nên tự khinh mà sanh thoái tâm. Độ có nghĩa là vượt, là thoát vậy, khổ chỉ chúng sanh trong ba cõi và sáu đường do nghiệp phiền não mà thọ sanh. Sự thật còn phiền não là không thể nào hết khổ được. Nhân đây trình bày sơ qua 3 điểm: 1. Các pháp hữu lậu (pháp phiền não) rơi vào chỗ bức bách bất an nên đều gọi là Khổ cả. Những sự vui thú thế gian ắt đưa đến chỗ tan hoại, duyên hợp ràng buộc bao mối phiền toái bất ổn là hoại khổ. Tánh bức bách lại càng tăng thêm thống thiết khó chịu đựng được, chúng càng dồn dập phát sanh nên gọi là khổ khổ. Cái khổ dồn dập này là nghĩa của họa tai, hoặc là nghĩa của họa tai, ách nạn nên nói khổ hoặc là tám khổ: sanh khổ: thai nhi trong bào thai, ra khỏi thai đều bị các khổ đoanh vây bức ngặt; lão khổ: lớn lên già nua lụm cụm, thân thể bại hoại rã rời, bịnh khổ: bần thần bất an, thiếu ăn mất ngủ, thể xác, tinh thần suy nhược biến đổi; tử khổ: hơi thở không còn mạng sống chấm dứt, tan rã, ghét nhau phải chung đụng (oán tắng hội khổ): không thương nhau mà gặp nhau hoặc chung đụng lẫn nhau, thật không gì khổ bằng, ái biệt ly khổ, yêu thương nhau phải xa lìa từ bỏ người thương; cầu bất đắc khổ: những gì mình mong muốn không thỏa đáp đều gây nên khổ, ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hưng phát khổ: do phiền não (hữu lậu) sai sử nói chung bao gồm trong năm ấm (uẩn) gây ra khổ. Trở lên bàn về tám khổ, sau đây nói qua “ách” có nghĩa là 8 nạn và những chướng ách của ba tai gây ra. Do chưa đủ sức quán chiếu Không nên bị cảnh buộc chặt tâm khởi phân biệt dấy phiền não sanh trong 5 đường (thú) khổ. Đã thấy được ba tánh Không hoặc quán chiếu các uẩn hoàn toàn chân không nên phân biệt với chẳng sanh, quả xấu theo đó mất hẳn nên có thể vượt qua mọi khổ đau ách nạn, như bài kệ sau:

Tướng ràng buộc chúng sanh

Đều do nhơ nhiễm quánh

Khéo lo tu chỉ quán

Mới mong giải thoát cảnh

Y cứ tu quán chiếu Không cũng thoát khỏi nghiệp mê lầm, phạm vi rộng ở đây chỉ nói là vượt qua khổ, tức nói tướng không ở vị tư lương do nghe, suy lường để quán chiếu. Tâm thứ sáu nơi 10 tâm đầu, sau là tín tâm không lui sụt, không mất thiện căn liền vượt thoát mọi khổ đau tai ách như bài kệ sau:

Nếu hữu tình thế gian

Niệm chánh kiến gia tăng

Dù ngàn kiếp thọ sanh

Aùc đạo hẳn xa lánh

Đến thập trụ, trụ thứ tư trở về sau phiền não thô không còn mới có thể chế phục vượt ác thoát khổ ách; sanh quí trụ mới dứt phiền não, vĩnh viễn đoạn sạch không còn sót thừa, lìa sanh tử thoát khỏi ba cõi. Kinh Duyên Khởi ghi: ngoại đạo chấp các hành dị sanh đều lấy bốn thứ ngu làm duyên: Nội pháp hành dị sanh như kẻ phóng túng phước không cần đoái hoài, ba thứ ngu khác làm duyên: người không buông lung chủ các hành, ta không nói lấy vô minh làm duyên nên biết rằng từ đây trở đi lìa hẳn ác thú và mọi khổ ách. Sau trụ thứ bảy mới không còn tâm lui sụt và lìa hẳn mọi khổ ách nơi nhị thừa; đến vị thông đạt trước ngộ chân không, sau vĩnh viễn thoát khỏi ba đường ác, tám nạn dữ không còn dấu vết khổ nghèo bịnh tật v.v… của mọi sự khổ ách, hoặc cũng có thể vĩnh viễn lìa từng phần dứt khổ nạn, sợ hãi, phiền não trong ba cõi; đến sau địa thứ tám mới dứt hết được những thứ này. Từ địa thứ 7 về trước vẫn còn phiền não nên đến thập địa mới quán không được viên mãn. Hết thảy hạt mầm hữu lậu (phiền não) đều vĩnh viễn đoạn trừ, mọi biến dịch sanh tử khổ đau đều chấm dứt. Đến Như Lai vị làm lợi ích chúng sanh hoặc có khi thị hiện chẳng đúng như vậy; như Bồ Tát Quán Tự Tại do chưa thành Phật nên tu quán chiếu Không ắt phải đạt được để khuyên dạy người phát tâm tu nên nói vượt qua tất cả.

Này Xá Lợi Tử, lời ca tụng người tu hạnh thắng giải không do pháp thành lập, pháp là nhân sanh ra. Ở đây phải hiểu rộng là sanh Không để pháp Không sau đó hiển lộ. Như đúng phải nói, căn cơ người phàm thấp kém gọi là thuật nêu ẩn dụ chỉ rõ cho kẻ tu thắng hạnh dứt trừ bốn chấp, nghĩa là có ba đoạn: trước hết, này Xá Lợi Tử v.v… lưu ý chung sự chướng ngại của Không; kế đến: vì thế v.v… tóm kết riêng về Không, sau hết: vì vô sở đắc cho nên, giải thích rõ lý Không. Giải: Xá Lợi Tử là tiếng Phạn; tiếng Tàu đời Đường gọi là Xuân Thu (Thu Tử) do mẹ Ngài có biện tài nên lấy dụ đặt tên con, hiển lộ tư chất con nên lại xưng là tử. Do tài biện luận nơi mẹ mượn đặt tên con, để phá tà hiển chánh, nghe ít hiểu nhiều, tri kiến ban đầu sớm tỏ thông nhờ tư chất của Mẹ. Nay diễn đạt tánh không làm sao nêu dụ, chỉ nói thắng giáo để liên kết pháp hiển lý Không. Riêng lưu ý hàng thượng nhơn cho thích hợp căn cơ và đồng thời cũng là khuyến cáo chung đến đại chúng. Kinh dù đã khuyến giáo rõ nhưng người chưa ngộ pháp Không nên trước khuyên tôi luyện tâm mới trừ được bốn chấp (nhơn, ngã, chúng sanh, thọ giả tướng).

- “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc”. Lời xưng tán có nghĩa là bốn đại và những gì tạo ra chúng gồm 10 sắc xứ và pháp sắc xứ tánh đều biến hiện gọi chung danh từ sắc. Vì người tu hạnh thắng không nói rộng là pháp Không. Kinh Đại Bát Nhã nêu hỏi: tại sao như vậy ? Vì sắc tự tánh không, chẳng phải từ không nên sắc không không phải sắc. Sắc chẳng lìa không, không chẳng lìa sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Đây phá hai lối chấp (có – không). Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc để phá chấp thế gian chấp cho rằng ngoài sắc riêng có thật không; không ngộ chân không chấp bám các sắc mê mờ gia tăng nghiệp mê lầm nên trôi lăn trong dòng sanh tử. Giờ đây chỉ rõ do bị mắt nhặm thấy hoa đốm cố nhiên con mắt bị bịnh, không phải là không có, nên y thắng nghĩa sắc chẳng khác không, như Thánh điển Phật dạy rằng, nhân duyên sanh pháp nên Ta nói Không; sắc tức là không, không tức là sắc để phá chấp của kẻ ngu quan trọng hóa sắc không mới phân biệt có không; đối với sắc, đối với không mỗi mỗi phân biệt. Bây giờ nêu rõ dựa thắng nghĩa: sắc bản tánh không, người mê hiểu nhầm nghĩa đặc thù bị vướng không sắc. Như thế tại sao sắc diệt mới thấy không ? Như người nhặm mắt thấy hoa đốm tánh chẳng phải có, đâu cần phải thấy hoa mất rồi mới thành không; nên đối với sắc-không chớ sanh cố chấp. Phải dứt trừ kiến chấp điên đảo mới đạt đến Niết Bàn rốt ráo. Do hai câu kinh trên ghi rằng: sắc tự tánh không chẳng phải sắc diệt Không. Đúng phải nói như vầy, nếu y thắng nghĩa các pháp không đều không Hữu; mới thoáng qua tuy vậy mà trên lý chưa hẳn vậy. Chân – tục, tướng – hình, tục không chân diệt, sắc-không đối đãi nhau nên sắc diệt, không cũng mất, cho nên bản lai thể sắc là không. Vì người tu hạnh thắng giải nói căn cứ Không thật này khẳng định là Không, Không cũng Không nên phải nói như thế này: do nhân duyên sắc tự thể là Không, nên kẻ ngu trước đó thành người trí, tức phàm thánh lẫn lộn giữa Thánh phàm, tự xử là thành tư cách bậc Thầy, còn ai là kẻ mê? Vì người tu hạnh thắng giải nói phiền não là một phần của Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn, một phần của trần lao là chủng tánh Phật. Tất cả chúng sanh bản tánh vắng lặng đâu chẳng phải ngu trước rồi sau mới thành trí. Đúng phải nói nếu vin sắc việc có khác lý Không, nên bỏ chấp sắc mà cầu ngộ lý Không, đã không thật sắc chấp sắc tức là ngu, cầu trí bỏ ngu há chẳng phải không điên đảo đó sao! Vã che mất sanh tử cầu đạt Niết Bàn, khổ vui chẳng màng cầu để làm gì? Kẻ mê muốn dứt sanh tử đạt Niết Bàn, bậc trí chẳng mong cầu làm gì? Kẻ mê muốn dứt sanh tử đạt Niết Bàn, bậc thánh mong cầu đạt thành là tà vọng. Vì người tu hạnh thắng giải nói: thế nhân mê lầm cầu thánh bỏ phàm, chân lý sắc không, lấy bỏ thành được gì ? Đúng phải nói, như nhiều việc cá biệt cũng nói không: đủ trong thắng nghĩa tự thành mâu thuẩn. Người chưa đạt ngộ biết sắc là không; người đã đạt ngộ chẳng nghĩ không sắc; bậc thánh tinh thông cần thấy đó đem lòng thương xót cho kẻ si mê lười biếng mừng vui hoan lạc. Như lời đức Thế Tôn dạy: Bồ Tát tùy thuận phương tiện khéo léo đạt  giải thoát rốt ráo. Nếu chúng sanh đối với những gì Phật giảng về Tánh Không, nghĩa là tất cả pháp không có tự tánh đều không, tức không sanh không diệt mà đều như mộng huyễn; nơi các pháp ấy không thể hiểu rõ thấu suốt. Bồ Tát như lý hiểu thông suốt  pháp nên Phật nói với chư Bồ Tát rằng: Kinh này không nói hết thảy mọi pháp đều vô sở hữu mà chỉ nói các pháp theo ngôn ngữ tự tánh đều vô sỡ hữu, nên biết các pháp đều vô tự tánh. Tuy theo ngôn từ nói tất cả đều y (dựa) pháp nên mọi ngôn từ có chuyển đổi. Song như lời Phật dạy tự tánh căn cứ nơi thắng nghĩa đế không phải là tự tánh, nên nói các pháp đều vô sở hữu. Hết thảy mọi pháp như đã nói tự tánh vốn từ Không nên đều vô sở hữu. Không từ đâu sanh, không từ đâu diệt nên nói các pháp không sanh không diệt. Hơn nữa, các pháp như mộng huyễn không đúng như nó là, không thật hữu, cũng không phải mọi mộng huyễn hình thể đều vô sở hữu. Như thế các pháp không như người ngu luận bàn theo quán tính thấy chỗ hiển hiện như thật hữu; cũng không phải các pháp thắng nghĩa lìa ngôn từ tự tánh vô sở hữu. Do đó nên hiểu rõ mọi pháp chẳng có chẳng không mà như mộng huyễn tánh nó không hai, nên nói tất cả các pháp đều như mộng. Thế nên Bồ Tát có cùng nơi các pháp và pháp giới, không chấp thiểu phần cũng không bỏ thiểu phần; không làm tổn giảm cũng không tăng thêm, không bị diệt mất. Như pháp thật hữu biết là thật hữu, như pháp thật không biết là thật không. Được vậy đích thực Bồ Tát đã tùy thuận phương tiện khéo léo mà thông đạt pháp. Kinh Bát Nhã thuyết những kẻ mê mờ cố chấp thật hữu nên phải nói tự tánh các pháp thật như mộng huyễn không có tự tánh và đều không thật có không sanh không diệt, chẳng phải không thánh trí, hẳn chân – tục đế đều lìa ngôn ngữ là pháp tánh. Không phải như mộng huyễn, tất cả vật chất cũng như hình sắc đều vô danh vô tánh, đạt đến vô danh ấy là ngộ chẳng phải Hữu, đạt đến thánh cảnh hữu danh là ngộ chẳng phải Vô. Cho nên nói rằng Bồ Tát không chấp thiểu phần cũng không lìa thiểu phần; không biết là không, hữu biết là hữu. Nếu y thắng nghĩa nói thể các pháp đều không không thiếu hữu. Hiểu vấn đề như thế đâu phải thiện xảo (hay khéo), gọi là ngộ không phải không chẳng bỏ thiểu phần cũng theo đám rối làm thương tổn hoại diệt chánh pháp. Do đó nên biết rằng ý kinh này trước là phá chấp sắc Hữu nên nói sắc Không. Không ấy chính là Vô vậy. Không phải pháp tánh là không, do kẻ mê chấp cho tình – sắc – tướng bản tánh chẳng có. Như chấp chẳng không và do vậy sắc diệt không cách gì thành không được mà thành hai lối chấp điên đảo, cho nên song hành làm rõ sắc, sự lý không như chỗ chấp. Chớ khởi vọng mà sanh chấp điên đảo, vọng chấp đã dứt hẳn chỗ chấp sắc cũng không còn. Nên phải dứt đoạn tánh tùy thuộc mà giữ tánh giả lập (biến kế chấp) như mắt nhặm đã hết không còn thấy hoa đốm nữa. Hàng nhị thừa, ngoại đạo chấp thật có nhân duyên tác dụng sanh pháp tánh đều phi Hữu nên Phật dạy: nhân duyên sanh pháp Ta nói đều là Không không phải gọi tánh tùy thuộc sắc như huyễn cũng đều Không vậy, như bài kệ sau đây:

Vọng chấp phân biệt sanh

Do đó nghĩa lập thành

Chẳng thật hữu toàn không

Diệt sạch giải thoát xong

Thánh điển cũng nói các pháp không tự sanh cũng không từ cái khác sanh, không từ cộng sanh cũng chẳng phải không từ cả hai sanh. Tuy vô sở chấp do nhân duyên tác dụng mà có công năng duyên mới thành. Đây nếu nói không ứng hợp với không tục đế; tục đế không nên chân đế cũng không. Nương ai và do ai mà được giải thoát, hoặc giả cái không này là pháp tánh không. Nếu giả lập (biến kế sở chấp) chấp sắc và cái tùy thuộc sắc (y tha chấp) hẳn khác thật hữu; chân tục hẳn riêng biệt thành mê mờ. Nay hiển bày hai sắc tánh là Không – Vô tướng, Vô vi – Không gồm trí – cảnh; nên xả hai chấp hướng đến chân không nên hướng tới Không nhưng cả hai trừ vọng kiến. Sắc thể của pháp tánh là chân tướng không khác Không, thế còn mê chấp gì? Kinh giảng nhị đế có cạn sâu khác nhau mà tướng bổ sung nhau thành có chân tục, có tục trong tục, có tục tục trong chân, có chân chân trong chân, có chân chân trong tục, tức tục chính tục, chân tục chân. Có tục có chân, tục không chân diệt, đã không phải vô sắc mà độc nhứt Không, cũng chẳng phải sắc không, chẳng là không phải chẳng là. Nay giả định khác so sánh chỉ nói chẳng khác là. Cái chẳng khác đề cập ở đây cũng chẳng phải chẳng khác, như luận Biện Trung Biên có bài kệ:

Không hữu vô nên không

Không hữu chẳng phải đồng (không)

Không một cũng chẳng khác

Ấy là không tướng pháp

Nay nói sắc - không nương nhau hiển bày làm cho ý nghĩa càng thêm sáng tỏ để phá trừ nghi chấp. Như trên nói Ngài Quán Tự Tại dạy phải tôi luyện tâm; ở đây nói sắc không khiến trừ bốn chấp, một nhị thừa tự hài lòng hạn hẹp trong việc tự lợi không muốn lợi tha, hai đối với Đại thừa khởi tâm ngờ vực nên rơi vào chỗ điên đảo, ba đối với Văn, Tư, Tu nói Ngã ngang nhiên khởi lên vô số pháp chấp, bốn hài lòng yên tâm với cái hiện có chấp sắc v.v… cho đến Bồ Đề vướng nơi phân biệt. Bây giờ nói sắc v.v… không khác không - sắc tức là không - làm cho nhị thừa bỏ chấp hẹp hòi mà được trí vô phân biệt thành hạnh xuất thế.

- “Thọ, tưởng, hành, thức… cũng đều như vậy”. Lời xưng tán: e kẻ nghi chấp cho sắc chẳng khác không, chỉ thể sắc là không, ngoài ra pháp không phải vậy. Vì thọ, tưởng, hành… cũng giống sắc, có thể tiếp nhận cảnh mà khởi lên khổ vui. Bỏ thọ có thể chấp nơi cảnh, có tướng, không  tướng, nhỏ, lớn, nhiều, ít do chỗ phân biệt gọi là tưởng. Suy nghĩ tạo nghiệp lành, nghiệp ác, nghiệp không thiện không ác (vô ký) và cùng các tâm sở khác chu lưu gọi là hành. Tâm - Ý - Thức cả ba đều rành rõ riêng khác cùng gọi chung là thức, nghĩa là bốn sự nhận thức cột trụ và có thể định thức như sắc đưa vào, nhờ đưa vào mà biết, do biết mà tác dụng, vì tác dụng mà rõ, cho nên săùc, thọ v.v… thứ tự đều như vậy song do người đời chấp ngã sự việc thêm phức tạp có năm như cho rằng: thân ta đầy đủ, ta thọ dụng, ta nói năng, ta tạo tác, tự thể ta. Nay nêu rõ uẩn chỉ là công năng của pháp, không thật có tự tánh, không ngã và cái thuộc ngã nên nói năm uẩn không tăng không giảm. Kẻ ngu không biết phá ngã chấp đối với không uẩn mượn cho là uẩn, bèn chấp có, ở đây muốn phá chấp ấy nên nói Không. Nhị Thập Luận cho rằng: nói không có ngã hữu tình chỉ nhân pháp mà có. Chữ vân vân có nghĩa gồm xứ, giới v.v... năm loại thiện xảo nhưng Đại Kinh Phật dạy “sắc không cho chí Bồ Đề cũng không. Giá có pháp đạt đến Niết Bàn Ta cũng nói như huyễn như hóa”, cho nên vân vân nói đây bao hàm chung hết thảy. Thắng không phải đủ hai pháp như đã giải thích trên. Tiếp theo Đại Kinh rằng thọ, tưởng, hành, thức tự tánh Không, chẳng phải từ không nên cần phải nói rộng ra thọ, tưởng, hành, thức là Không; Không tức là thọ, tưởng, hành, thức. Tại sao vậy? Vì đây chỉ có danh gọi Bồ Đề, nghĩa là Không nên đây cũng chỉ có danh gọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

- “Này Xá Lợi Tử”, đó là các pháp không tướng, không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm”. Lời tán: trước bảo thể mọi pháp là không, ở đây cho hay pháp nghĩa là không. Đó là các pháp, chỉ các pháp sắc, thọ, tưởng v.v… đã nói trước không, vốn không nay có tên nên tạm có rồi hoàn không gọi là diệt, do chướng nhiễm nên dơ; chữ tịnh nghĩa rộng có thể dịch là tăng, hay cũng gọi là giảm. Với người tu thắng giải nói y sự thật thế tục cho sắc v.v… là có, vì có sanh ra vậy. Theo thắng nghĩa đế (sự thật tuyệt đối) sắc, thọ, v.v… vốn không. Tại sao hư không lại có sanh? Phải biết sanh diệt vô tướng đều Không. Như đúng phải nói: tánh giả lập (biến kế sở chấp) và tánh tùy thuộc như đã nói tự nhiên pháp bản tánh vốn không. Pháp tánh sắc v.v… thể đều không hoàn toàn không giống như chấp không của nhị thừa mà có phần sai khác nên nói không tướng, không sanh, không diệt… Ngoài ra, nếu chấp pháp hữu vi chu biến hẳn phải có sanh có diệt, pháp vô vi trong ràng buộc mà  ra khỏi buộc nên cá biệt thật có dơ, sạch. Người chưa chứng chân như và người đã ngộ các pháp hữu vi, vô vi, đắp đổi nhau (bổ sung) có tăng giảm. Như thế kẻ chấp đều vin vào chỗ chấp nên nói thể-tướng đều không. Thà như lối chấp cho rằng hữu vi có sanh diệt, vô vi có dơ sạch chung cả hai bên có tăng giảm. Như thấy sóng dợn mà chấp là nước, nước đây vốn không làm sao sanh khởi? Không phải không sóng dợn mà dường như nước có sanh. Nên nêu thêm vấn nạn: nếu y cứ nơi tánh tùy thuộc thì sắc v.v… đều là không như kia, sanh diệt đây cũng vậy. Lời giải đáp cho rằng như trong hư không sắc tuy có sanh diệt mà vô tướng Không. Như thế tánh tùy thuộc tùy có sanh diệt chân không không phải vậy. Lại nêu thêm câu hỏi rằng, nếu tất cả pháp đều là chân không, không tướng trùm tham, sân… dơ, sạch, tín v.v… ở trong tịnh, ứng với dơ sạch. Giải đáp: như trong hư không có sắc, dơ, sạch, tướng, không không phải vậy. Như thế các pháp tuy có dơ sạch mà vô tướng Không như bài kệ sau:

Không nhơ không chẳng nhơ

Không sạch không chẳng sạch

Tự tánh vốn tịnh thanh

Bị nhiễm khách trần thành.

Như có người nói: nếu pháp thuần không có tướng riêng nên Thánh giáo giải thoát đã có sự tăng giảm mà chân không ứng hợp như vậy. Ở đây theo thắng nghĩa đáp rằng:  như trong hư không sắc tướng tăng giảm, tướng không chẳng phải vậy. Thánh giáo tuy có tăng giảm như vậy nhưng vô tánh không, đều do sự tướng, thể tướng riêng nên nếu tất cả pháp duy chân như không, làm sao mọi pháp có sanh diệt được. Trở lên nói chung chẳng phải chỉ có sắc thể không khác tức là không, trên sắc sản sanh vô số sự sai biệt nghĩa cũng không khác Không. Ở đây chung riêng lược nêu ba cấp, mà kỳ thật không tướng chẳng phải một cấp. Dẫn giải theo Đại Kinh như sau: như thế tự tánh không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh. Bồ Tát khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa như thế không còn thấy có sanh diệt, nhiễm tịnh. Tại sao thế? Vì chỉ tạm mượn danh riêng, riêng đối với pháp mà khởi phân biệt, như khởi tưởng cho rằng như vậy, như vậy nên sanh chấp vướng. Bồ Tát khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa trong tất cả ý niệm đó chẳng thấy, vì không thấy nên không bám chấp.

- “Vì thế trong không trung không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức”. Tán thán: vì người tu giải không mà nói, ở trên lấy sắc v.v… thể tướng nói chung đối với Không rõ ràng không khác, sợ rằng nghĩa không sáng tỏ làm cho sự quán sát kỹ cho rằng hư không hoàn toàn rỗng không, tiếp ở trước mà nói như vậy; lời này chung cho việc chấp các pháp là không. Như đúng phải nói cả ba thừa cùng chung năm loại thiện xảo, nghĩa là uẩn, xứ, giới, duyên khởi, đế tùy “thừa” mà chỗ ứng hợp quán có viễn cận, do nhị thừa dựa vào chấp hữu, ở đây đối lại nói Vô. Do chấp thể hư không toàn rỗng không nên cũng chấp uẩn (chỗ chứa nhóm) bản tánh toàn không. Song Phật phương tiện trong pháp hữu vi thiết đặt uẩn để phá năm uẩn trong ta dần dẫn tới lời thật thiện xảo, mà không phải thật hữu, như bài kệ :

Như đèn huyễn sao mờ

Mây, điện, mộng, bọt bèo

Hòa hợp kết thành theo

Nên quán sát như kia

Pháp hữu vi không cố nhiên là uẩn, do chấp uẩn v.v… có lý gì thành chân được. Pháp tánh là chân không nên không phải tướng uẩn, cho nên hư không không có năm uẩn. Đại Kinh tiếp rằng, lại này Xá Lợi Tử chư Bồ Tát khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa (tu tuệ giác siêu việt rốt ráo) nên quán như thế, Bồ Tát chỉ hữu danh, tuệ giác siêu việt rốt ráo chỉ hữu danh, sắc, thọ, tưởng, hành, thức chỉ hư danh, cho chí nói  rộng ra cũng như thế.

- “Không có nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Lời tán thán rằng, ở đây nói trong hư không không có 12 xứ, vì người tu thắng nghĩa nói: Phật nghĩ cách phương tiện nói có xứ dẫn dụ làm cho hành giả nhập vào chân, đã vào chân rồi cần y theo chân thật nghĩa nên nói không. Như  đúng phải nói: do vì căn, cảnh có khả năng làm cho 6 hành nẩy sanh cánh cửa chắn nên nói là xứ. Song lấy tướng thấy, thăm thú, trang điểm, ăn uống, hầu hạ phân biệt ở đời nên Phật dạy xứ lần lượt là như thế. Do vì mắt, tai không thể đạt đến thủ đắc, 3 căn mũi, lưỡi, thân đến mới giữ lại và ý là tám thức quả nhiên hẳn bất định. Mắt, tai dùng vượt thường được gọi  là thiên nhãn, thiên nhĩ, biến đổi không thật chỉ ở cõi dục, năm thức trước phải nương vào các thức sau. Nghiệp, duyên, chung, định, pháp lực đều sanh các pháp ứng dụng có hơn kém như sau đây là chín, tám, bảy, năm pháp duyên khởi: sắc có nghĩa là hình, biểu, thanh còn gọi là chấp thọ hay không chấp thọ, đầy đủ yếu tố là phát sanh. Hương đầy đủ sanh hòa hợp, biến đổi; vị là đắùng, chua, cay, ngọt, mặn, lạt. Xúc gồm bốn đại tiếp xúc với nó tạo thành, pháp là không đối với sắc và các tâm  sở không xứng hợp, vô vi. Năm uẩn đầu chỉ có hai ngoài ra các uẩn khác chung với dị thục thức mà thành lưu chuyển. Dị thục thức chỉ có cõi dục, cõi sắc, hai thức sau chung ba cõi. Sắc, thanh có: biểu hiện, ý và pháp chung cả ba. Mười sắc chỉ là vô ký và thiện tức là bỏ theo hữu giả lập tạo danh, hết thảy đều chung pháp hữu lậu, vô lậu, như Duy Thức Nhị Thập Tụng có bài kệ:

Y kia chỗ khởi sanh

Mật ý Phật phân minh

Nói có sắc xứ cảnh

Chúng hữu tình hình thành.

Ý nói Phật vì kẻ vọng chấp ngã chìm đắùm sâu trong sanh tử không có ý thú hướng cầu thoát ra, không phải xứ trong pháp nói đó là xứ, như chấp đoạn kiến nên nẩy sanh mật ý dẫn lối vào thật tế bỏ chấp ngã. Nhị thừa không rõ phương tiện lời nói chấp là thật hữu nên ở đây cần làm sáng tỏ chỗ chấp đó bản tánh vốn Không. Trong pháp nhân duyên đã chẳng có thật xứ; pháp tánh lý Không cũng không có tướng xứ, tiếp nghĩa trước mà tóm kết xứ là Không. Tiếp tục Đại Kinh dẫn rằng nhãn xứ chỉ hữu danh cho đến pháp xứ cũng chỉ hữu danh; nhãn xứ Không cho chí pháp xứ cũng Không.

- “Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới”. Tán thán: trong phần này nói: hư không không có 18 giới. Vì người tu nghĩa không nói: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhỉ giới, thanh giới, nhỉ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới gọi là 18 giới. Ở đây nêu lên không trước sau kể cả trung gian 18 giới, thế gian nói Có, thắng nghĩa nói Không vì chỉ có giả danh. Tự tánh không nên đúng ra phải nói: do căn, cảnh năng giữ sáu thức, nó cũng lại tự giữ lấy nhân quả, tánh ấy gọi là giới. Xứ nói trên thứ tự thức giới tùy đó sanh nên 18 giới thứ tự như thế. Hay chấp giữ nơi cảnh là sáu nội giới, tướng, mắt v.v… bị cảnh thu nhiếp là sáu ngoại giới tướng. Nương căn duyên cảnh mà cơ hồ cảnh liễu biệt là sáu thức giới tướng. Trong đó ý giới là tâm ý thức, tâm nghĩa là thức thứ tám có công năng giữ gìn hạt giống cất chứa hướng đến sự phát sanh. Thiện tánh, tánh không thiện không ác (vô phú) có khả năng biến thân cơ làm chỗ nương của chúng sanh, có ba danh để gọi: 1. Ngã ái chấp tàng gọi là A Lại Da Thức. Tàu dịch là tạng (chỗ, kho chứa) có ba nghĩa: năng tàng, sở tàng, chấp tàng (hay chứa, bị chứa, chấp có) 2. Thiện ác nghiệp quả vị gọi là Tỳ Thẩm Ca – dịch là Dị Thục Thức: tạo tác thiện hay bất thiện nghiệp đều thu vào 3. Tương tục chấp trì gọi là A Đà Na, dịch là trì hay chấp giữ thân không để cho mất. Ý có nghĩa là thức thứ bảy, nhiễm chấp tướng Ngã vì nương theo pháp hữu lậu (phiền nhiễu) dung dị bình đẳng, tánh nó thiện có che giấu, cũng có ba danh để gọi: 1. Ngã chấp tương ưng vị gọi là hữu phú mạt na duyên thức A Lại Da chấp làm ngã 2.Pháp chấp tương ưng vị là vô phú mạt na duyên Dị Thục thức chấp làm pháp. 3. Tư lương tánh vị chính danh Mạt Na duyên A Lại Da v.v… khởi suy lường gồm năng duyên, sở duyên, đoản trường, bình đẳng. Vì thế thức 7 và 8 mỗi thức có 3 danh, hai danh trước đều hữu lậu (phiền não), danh sau thông với vô lậu. Thức có nghĩa là sáu thức do hiển lộ đều chung ba tánh, đến Phật quả chuyển Dị Thục Thức thành Viên Cảnh Trí. Chín dụ hình ảnh hiện trong đó tùy ứng hợp sơ địa chuyển hai thức Mạt Na thành Bình Đẳng trí hàm đủ 10 công dụng thù thắng. Chuyển năm thức trước thành Thành Sở Tác Trí khởi phát 10 nghiệp đầy đủ bổn nguyện. Do phần nhiều phân biệt lấy Thức làm chủ, quả nhất định phải nêu Trí làm danh. Tám thức trước này là bảy tâm giới, bốn tâm thiện hàm nhiếp pháp giới, ba chiếu tỏ Hữu - Vô đủ chân tục trí thành sự soi chiếu tục trí là phi chân. Trí Viên Cảnh, Bình Đăûng luôn luôn bất động, trước hằng quán chiếu gọi là Nhứt Thiết Trí, Trí Diệu Quán là việc có khi bị gián đoạn. Tuy bốn trí này có đầy đủ tánh đức nhưng tùy tướng tăng khởi sanh bất định. Nhưng Phật nói pháp có rộng hẹp khác nhau, đối với uẩn lược nói sắc, thức, nói rộng xứ, giới. Uẩn tâm sở và xứ, giới nói lược, vì người mê cả ba nên nói uẩn là hữu vi, xứ nói hai chấp, giới tăng tướng chấp. Cơ hội mong muốn phá ngã còn lại thực tế là giới; nhị thừa không nắm rõ bèn chấp cho là thật... chỗ chấp đó hoàn toàn đều không, hết thảy không thật là giới, cho nên tiếp trên đi tới kết quả là Không.

- “Không vô minh cũng không có cái hết vô minh, cho chí không già chết, cũng không hết già chết”. Tán thán: vì người tu quán Không nói: trên không quán xa, dưới không quán gần, pháp quán này không phải chung quanh vị Độc Giác quán sát. Khế Kinh nói rằng, vì người cầu Độc Giác nói ứng hợp pháp mười hai duyên khởi. Kinh cũng nói rằng, vô minh cho đến già chết chỉ có giả danh, tự tánh Không nên ở đây nói là Không. Hết tức có nghĩa là Không và Không cũng là Không, nên nói không hết vô minh cho chí không hết già chết. Pháp 12 nhân duyên (khởi) không hữu đều Không, nên biết ngoài ra các pháp khác cũng đều như vậy, tưởng cần làm sáng tỏ như đúng phải nói như Ngài Từ Thị bảo rằng, trong đây đối với pháp nhiễm tịnh đều có sự thuận nghịch khác nhau. Pháp nhiễm thuận quán dựa theo dòng sanh tử lưu chuyển (biến); nghịch quán dựa theo pháp gia hạnh mà thuyết minh. Thanh tịnh thuận quán y cứ căn bổn pháp dứt trừ phiền não mà nói, nghịch quán dựa vào chỗ đã đoạn pháp trọng chướng. Quán pháp tạp nhiễm thuận trước nhất phải biết rõ bản chất của 12 nhân duyên như thế nào.

1.   Vô minh: ở trong ngu tối, ngoài si ngốc

2.   Hành: hành động dù việc phước hay không phước đều bất động

3.   Thức: tức là dị thục thức

4.   Danh sắc: gồm đủ thân tâm của 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng v.v…)

5.   Lục nhập (xứ): sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý căn

6.    Xúc: tiếp xúc trần cảnh phân biệt hơn kém

7.   Thọ: lãnh thọ mọi sự khổ vui của đời sống

8.   Aùi: yêu đắm, tham chấp ba cõi

9.   Thủ: chấp, nắm giữ phiền não

10.   Hữu: Từ hành tới thọ sáu chi (nhánh) hạt mầm do ái chấp lan tràn đến Hữu và sau Hữu.

11.   Sanh: quả khổ kết thành hiện thực

12.                       Lão tử: suy vi chung cuộc (chấm dứt, mạng hết)

     Kế quán do si mê nên khởi tà hạnh tập thành tạo nghiệp thọ quả đời sau, biết tuớng năm uẩn khởi các căn đầy đủ, tiếp xúc, thọ chủng tử, cảnh giới đưa đến thành quả. Tham chấp, mong cầu nên phiền não càng sâu dày thấm thấu những nghiệp trước phải thọ khổ sanh, già, bịnh, chết, bi thương đeo đẳng, nên khế kinh nói rằng, vô minh duyên hành cho chí sanh duyên lão tử; thức v.v… năm chi vì không theo thứ tự nên y theo phần đang trình bày mà đề cập các duyên sau. Tạp - nhiễm, nghịch - thuận dựa theo tập nhiễm ban đầu để thiết lập sự thật, nghĩa là lão tử khổ, lão tử tập, lão tử diệt, lão tử hướng tới hành diệt cho chí tùy theo sự thích hợp trãi qua quá trình quán xét các sự thật. Do nhánh lão tử thâu kết khổ đế, đối pháp duyên khởi trước nghịch với sự quán sát, dùng ba tướng quán chi lão tử: 1. Nhân duyên tế (nhỏ nhiệm) 2. Nhân duyên thô 3. Không bất định. Nhân duyên cảm nhận thọ sanh gọi là tế (chi li tinh tế); trong khi ái, thủ, hữu, sanh ngay nơi tự thể gọi là thô, có nghĩa là chi phát sanh do hai chi sanh này mà có lão tử. Lão tử đời sau tế sanh là nhân, hiện tại lão tử là sanh nhân thô. Trừ hai chi sanh này ngoài ra ắt không có cái gì có thể sanh lão tử nên gọi là không bất định. Tuy quán lão tử thật là khổ đến ái trở đi cái khổ rắc vào tập đế chưa tạo vui đủ, bèn quán sát tập theo sau trong hiện tại vô vàn các khổ, nghĩa là quán nghịch, thọ, xúc, lục nhập, danh sắc và thức, quán xét khổ vị lai thật là cái khổ bây giờ. Quán cái nhân của tập đã có là đích thật tập đương thành, quán sự thật tập của khổ đời vị lai do ai mà có. Biết do từ trước tập khởi sanh thức làm giềng mối đưa tới có khổ hiện tại. Đã biết tập từ trước sanh khởi cũng không cần phải quán điều này tại sao có. Do thức, danh sắc ví như bị câu thúc đắp đổi sanh không ai là tác giả. Do đó quán sát thức lùi trở lại và như vậy là quán sát khổ, tập theo thuận nghịch chỉ trong 10 chi. Kế quán diệt đế trước từ lão tử đến vô minh, tại sao tất cả đều đang diệt sạch, vì do chẳng tạo vô minh làm duyên tạo nghiệp mới nên các khổ phải diệt. Tiếp theo mong tìm cầu chứng đạo, ghi nhớ thầy dạy pháp duyên khởi trước đây để thấy rõ pháp thế gian đúng chánh kiến hiện tại. Một đôi điều quán xét ấy làm cho cái thấy tăng thêm, ấy gọi là quán theo tạp nhiễm, thuận nghịch. Thanh tịnh thuận quán là do trước đây đã tập nhóm tư lương chánh kiến, nên với các đế  lần lượt thâu đạt được hoặc hữu lậu hoặc vô lậu bằng cái biết thanh tịnh, mới không sót đoạn vô minh và ái. Các chi vô minh, xúc là duyên sanh ra thọ cũng lại phải đoạn nốt. Nơi các pháp hiện tại đạt đến huệ giải thoát, thọ tương ứng với tâm; tham ái, phiền não lìa hết không còn buộc nên tâm hoàn toàn được giải thoát. Vô minh dứt đoạn nên ứng hợp các hành, thức cho chí thọ đều chẳng sanh. Cho nên Kinh dạy rằng, vô minh diệt nên hành diệt cho chí xúc diệt, cho nên thọ diệt. Thọ ấy chẳng sanh Không do đấy khởi ái, và vì ái nên cũng nói: thọ diệt nên ái diệt cho chí sầu than, phiền lo đều diệt, chỉ có thức v.v… thanh tịnh trinh nguyên nơi cõi Hữu Dư Y Niết Bàn gọi là chứng đạt Niết Bàn hiện tại. Lại hữu lậu hết đạt đến chân thường gọi là cõi Vô Dư Niết Bàn. Thanh tịnh nghịch quán đã đoạn dứt xong quán sát ngược lại, do không ái nên lão tử không, do ái diệt nên lão tử diệt. Biết là vô tác do duyên sanh chủng tử hiện hữu, hai sanh không nên lão tử không, vô thường duyên sanh hai sanh diệt nên lão tử diệt. Như thế cho chí biết do vô tác duyên sanh phát khởi buộc chặt ba món thùy miên. Vô minh không nên hành không, vô thường duyên sanh ba vô minh diệt nên hành diệt, đó gọi là quán sát thanh tịnh thuận nghịch nương theo thuận nhiễm không nói chi sanh. Cơ hội chờ mong đến nên nói nghịch chỉ có 9 chi, lấy nghiệp làm thức không phải duyên kết tập nên hoặc quán mười một chi. Vô minh không vì trí kém nên đức Thế Tôn chỉ phương tiện như thế khiến hàng Độc Giác v.v… tự tu tập đạt giác ngộ, nhưng vì Độc Giác không thông suốt nên vọng chấp cho là có thật pháp nhiễm tịnh duyên khởi. Nay nói Độc giác Không làm cho họ lìa chấp, với pháp tạp nhiễm chỉ nói không vô minh cho chí không lão tử, với pháp thanh tịnh chỉ nói Không hết vô minh cho chí không hết lão tử. Mỗi chi chỉ cái Không thuận mà nêu lên Không nghịch; chỉ rõ không trước, sau trong phần liệt ra cũng Không nên đến địa thứ sáu dù dùng pháp quán này vẫn còn chấp thật hữu lưu chuyển hoàn diệt. Đến địa thứ bảy mới dứt được chướng sanh diệt, sanh là thuận nhiễm tức cái không bị vô minh đây cho chí lão tử diệt là thuận tịnh tức hết cái không bị vô minh này cho đến hết lão tử. Chỗ không nói đó nghĩa là không còn chỗ chấp tác giả thường kết trong hai mối duyên sanh chẳng phải không có công năng pháp duyên khởi diệt. Khế kinh nói rằng, không mất tục đế nhập vào chân đế. Không tác giả không người thọ song nghiệp đều không  mất nên dựa theo đó không rõ được tướng duyên khởi. Chân lý cũng không diệt hết vô minh nên đều không. Nếu hết thảy nghiệp thiện ác đều không thì khế kinh chỉ nên nói pháp phi hữu, tại sao bao la phức tạp nói xa rằng chẳng phải Không. Đợi vào nhân duyên các pháp mới thành lập, tự việc đã trùng phức nên phải nghiên cứu kỹ.

- “Không khổ, tập, diệt, đạo”. Lời tán, vì người tu thắng không nói, cái không trên đây Độc Giác quán sát gần, đây không phải Thanh Văn cận quán nên Khế kinh cho rằng, vì người  cầu Thanh Văn nói phải thích hợp pháp tứ đế, cũng thêm rằng, tứ đế chỉ có giả danh tự tánh vốn không, nên suốt trên dưới tới điểm này cũng là cảnh. Đối với pháp duyên khởi, cũng cần nên quán xét cẩn thận hàng đầu, sau mới nói lý thật Không. Như đúng phải nói như Kinh Thắng Man ghi rằng an lập bốn Thánh đế chẳng phải an lập bốn Thánh đế, tám Thánh đế như vậy chẳng phải chỗ hiểu của Nhị Thừa. Phần đoạn (từng phần) sanh tử là khổ, phiền não và nghiệp hữu lậu gọi là tập, trạch diệt là diệt. Sanh không trí gọi là đạo. Pháp thô lộ bày cho kẻ trí mỏng biết gọi là an lập đến Biến dịch sanh tử là Khổ, sở tri chướng (chướng ngại về sự hiểu biết) và vô lậu nghiệp phân biệt gọi là tập. Tự tánh thanh tịnh không trụ Niết Bàn gọi là diệt, pháp không trí gọi là Đạo. Tinh tế sâu ẩn khó biết không phải cảnh thô thiển chẳng thể an lập chân lý. Tóm tắt như thế này, pháp hữu lậu bức ngặt đều chiêu cảm lấy khổ sau đó mang danh là tập cho nên pháp vô ký hoàn toàn không phải tập đế. Đây lược nói nhân quả của sanh tử, bốn loại Niết Bàn gọi là diệt. Pháp vô lậu hữu vi vì đạt đến diệt nên gọi là đạo. Ở đây lược trình bày nhân quả xuất thế, như người trị bịnh biết bịnh và hiểu rõ nguyên nhân bịnh; bịnh lành, cách trị cũng dứt. Quán sát cái khổ của sanh tử: nguyên nhân khổ, khổ tận diệt, cách diệt khổ cũng như vậy. Chỉ bậc Thánh thật biết gọi là thánh đế hoặc theo sự quán sát hai pháp không chân như chẳng tạo tác quán riêng không phải an lập xa. Quán tứ đế mỗi pháp có bốn hành là vô thường, khổ, không, vô ngã, nhân, tập, sanh, duyên, diệt, tịnh, diệu, ly, đạo, như, hành, xuất; do khổ đế hành hay trừ bốn pháp điên đảo nên có chung cuộc, là nhập chân đế. Gần quán pháp gia hạnh không chỉ quán khổ, mà quán không an lập mới vào chân đạo. Đối không khổ v.v… mà Phật dạy là khổ, chúng Thanh Văn không nắm trọn vẹn lời dạy ấy nên khởi chấp. Nay phá chấp kia nên nói Không, theo như chấp ấy hẳn không có tướng khổ, tập v.v… chân lý do đâu có sai biệt ấy. Do đây hoàn toàn là Không nên  địa thứ năm  tuy quán theo đây vẫn còn chấp thật hữu của tướng nhiễm tịnh thô. Tới địa thứ sáu mới dứt được chướng nhiễm tịnh. Nhiễm là hữu lậu tức ở đây cho là không có hai sự thật khổ, tập, tịnh là vô lậu, tức là không còn diệt, đạo của hai chân lý soi sáng sự thật.

- “Không trí cũng không đắc”. Lời tán, với người tu thắng không nói, trên không Thanh Văn cận quán, đây Không Bồ Tát cận quán năng  đạt đạo gọi là trí, sở ngộ cảnh gọi là đắc. Có trí năng chứng mới có sở đắc (chỗ đạt được), trí đạt được không có sở đắc cũng Không. Như Khế kinh nói rằng, vì người cầu Bồ Tát nên phải nói sáu pháp, đạt đến giải thoát rốt ráo, chỉ nói không có trí đắc.

Nói tóm một lời: như pháp chẳng phải không trước có chỗ thi hành, sau mới có đắc. Do vậy Đại Kinh nói rằng, hết thảy trí không cho chí Vô Thượng Bồ Đề cũng không. Đúng phải nên nói: Bồ Tát quán đúng duy không an lập nên nói chung gần cũng không có trí đắc, như có bài kệ sau:

Nương thức có chỗ đắc

Cảnh sở đắc không sanh

Nương cảnh không đạt thành

Thức không sở đắc sanh

Tu trí vô phân biệt ngộ đạt pháp chân như tâm cảnh thỏa hiệp bình đẳng bình đẳng, cái chấp, chỗ bị chấp thảy đều Không. Hậu đắc trí lìa các tướng kết buộc giả dối, vọng chấp phải lìa hai chấp, lại có bài kệ:

Do thức có nắm giữ

Cũng thành không sở đắc

Nêu hết hai hữu chấp

Không đắc tánh bình đẳng.

Các địa khác chấp do chưa dứt phiền não nên quán không rõ, có nghĩa là còn hai chấp thủ, phá bỏ năng thủ nói là vô trí, phá sở thủ lại nói vô đắc. Hơn nữa, đối với hai pháp có che hai chấp thủ, riêng che hai chấp thủ nói là vô đắc – năng đắc, sở đắc – che chỗ diệu dụng nên gọi vô trí, soi chiếu đoạn trừ nên ở đây giải thích trừ tánh giả lập, tánh tùy thuộc là việc huyễn (không thật) khẳng định trí đắc, thể chân như tĩnh lặng hoàn toàn không có hai tướng đều nương ba tánh nói vô vi. Không phải thật trí sanh nên chẳng có; nói trí và trí xứ đều là bát nhã mà thật không có tướng chấp hay tướng chẳng chấp.

- “Vì vô sở đắc cho nên”. Lời tán, vì người tu pháp Không nói rằng trước nói đúng nên trong Không không có sắc, v.v… dù hợp thành thượng sắc cũng chẳng khác không, không sanh diệt… nhưng chưa giải thích sắc là không chỗ y cứ; nay nêu rõ trong Không không có pháp nào làm chỗ y cứ. Nếu trong sắc v.v… thể nó phần nào Có phải nương thắng nghĩa có thiểu phần sở đắc. Tất cả đều là vô đắc nên vốn Không, như Đại Kinh thuyết rằng: tự tánh không nên tất cả đều không. Nếu đúng phải nói như luận Biện Trung Biên rằng, Bồ Tát tu pháp thập thiện quán pháp khéo léo: 1) Uẩn 2) Xứ 3) Giới 4) Duyên khởi 5) Xứ chẳng xứ 6) Căn 7) Thể 8) Đế 9) Thừa 10) Hữu vi, Vô vi, do Ngài Xá Lợi Tử chậm ngộ pháp Đại Thừa. Nên đây nêu Không của Ba thừa gồm: chung, riêng, gần, xa, gia hạnh, căn bổn là sáu pháp. Quán hai pháp chân đạt ngộ sự lý, sáu tướng chấp đều không sở hữu. Tánh tùy thuộc, tánh tuyệt đối không định sáu tướng nên lấy vô đắc giải thích chung như trên là Không. Đại Kinh thuyết rằng, sắc v.v… các pháp không chỗ đắc nên tuệ giác sâu xa cũng không sở đắc.

- “Bồ đề tát đỏa (giác hữu tình) y Bát Nhã Ba La Mật Đa  nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không có khủng bố xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng đạt đến Niết Bàn rốt ráo”. Lời tán: vì người tu nghĩa không nói rằng: trên phá hai chấp, mở rộng hai không, dưới ca tụng hai pháp y đạt được hai lợi. Ở đây ca tụng nhân pháp y mà đoạn chướng nhiễm được lợi lạc. Y như trên nói là danh khác của hành, quái có nghĩa là chướng, ngại là câu thúc, khủng là sợ, bố là hốt hoảng. Vì chưa y tuệ trí đắm sắc hữu ràng buộc lăn lộn trong các khổ luôn phát sanh khiếp sợ. Do hư vọng điên đảo và mộng tưởng sanh tử, nhờ đó phấn chấn hướng đến Niết Bàn rốt ráo. Đã y bát nhã ngộ sắc v.v… là Không liền không còn gì trói buộc ngăn ngại; kể cả khổ, sợ, đảo, tưởng… Vì cho rằng sanh tử tức Niết Bàn còn vọng cầu Niết Bàn rốt ráo làm gì, cho nên y bát nhã là xa lìa tất cả. Như đúng phải nói rằng dưới trở ngại nương học đức tốt để được lợi lạc, hầu lìa khổ chứng chân vậy. Đây nhằm tán thán Bồ Tát  nhân tu tập mà đạt lợi ích. Bồ Tát lúc thường hay giảng pháp nhân duyên, văn tự để quán chiếu tìm xét thật tướng làm quyến thuộc tu trì. Không mong cầu biết tất cả mọi cảnh giới gọi là y bát nhã (tuệ trí); quái còn có nghĩa là phiền não chướng làm cho không đạt được Niết Bàn, ngại tức là sở tri chướng (trở ngại chỗ hiểu biết)  không đạt được tuệ giác, hoặc cũng nói quái tức là ngại (chướng ngăn) gồm chung hai chướng. Khủng bố có nghĩa năm thứ sợ: 1) sợ không sinh sống nổi, vì phân biệt ngã chấp khởi sinh ái 2) sợ ô danh, làm việc bất lợi nên khởi niệm lo 3) sợ chết, do ngã kiến niệm nghĩ mất thân 4) sợ đọa ác thú vì gặp được chư Phật mà khởi tạo ác nghiệp 5) sợ khiếp số đông, thấy mình thấp kém, người khác trỗi hơn nên sanh tâm lo sợ. Điên đảo có bảy loại như: 1) tưởng, 2) kiến (chấp) 3) tâm 4) đối vô thường cho là thường 5) đối với khổ cho là vui 6) đối với bất tịnh cho là tịnh 7) đối với vô ngã cho là ngã. Với bốn thứ vọng tưởng sau đây khởi niệm phân biệt là tuởng ngược như: có thể nhẫn dục lạc, kiến lập, chấp bám là thấy ngược lại. Tâm đảo có nghĩa là phiền não có ba loại: 1) Căn bổn hay gốc rễ tức là ngu si 2) Thể tánh: nghĩa là chấp một bên và chỉ thấy một phần; giới cấm thủ, kiến thủ và tham, tát ca da tà kiến; ba đẳng lưu tức là những phiền não khác. Mộng tưởng có nghĩa là chưa đạt thật trí biết thường trong mộng tưởng. Do đây Phật dạy rằng sanh tử là đêm dài; mộng ảo tưởng  khởi nên gọi là mộng tưởng. Bảy loại điên đảo trên do vọng tưởng sanh, trong mộng mà hành xử nên gọi là mộng tưởng, hoặc có thể nói các đảo trên là nhân của sanh tử. Mộng tưởng này là quả của vấn đề sanh tử. Như trong cơn mộng phần lớn thuộc thân cảnh nên dựa quả nêu danh mộng tưởng. Niết Bàn là từ tiếng Phạn. Trung Hoa (Đường) dịch là viên tịch, tức thể nó châu biến tánh vắng lặng vậy. Tuy tánh chân như không hai không khác nhưng nương duyên diệt để nói thì Niết Bàn có bốn loại: 1. Tự tánh thanh tịnh Niết Bàn tức hết thảy các pháp là thật tướng chân như 2. Vô trụ xứ Niết Bàn có nghĩa tâm đại bi, tuệ thường bổ sung nhau như đôi cánh chim ngoài sở tri chướng là thanh tịnh chân như 3. Hữu dư y Niết Bàn tức tập đế hết là hiển lộ chân như. 4. Vô dư y Niết Bàn tức khổ đế hết là hiển lộ chân như. Hữu Y lần đầu nói vì hết thảy phàm thánh bình đẳng đều có; chúng sanh không sanh diệt bản lai (xưa nay) vắng lặng. Hữu y thứ nhì nói chư Bồ Tát trụ nơi không chỗ trụ và Thanh Văn không đạt đến Niết Bàn. Hữu y hai loại sau hết nói rằng ba thừa cũng được giải thoát. Ở đây nói chung, do chư Bồ Tát y Bát Nhã ngộ ba không tánh và do ngã pháp cả hai Không hiển rõ hết thảy đều không. Tâm hành giả không bị hai chướng làm ngăn chướng, năm sợ hãi khủng bố, bảy đảo thúc buộc, mộng tưởng lầm lạc mới có thể đạt ngộ Niết Bàn rốt ráo. Hoặc chư Bồ Tát do y Bát Nhã tu pháp không (thắng giải) mang tư lương vào đạo dần chế phục hai chướng phân biệt hiện hành; tới gia hạnh vị mới dứt hết, cũng có thể dần dần chế phục hai món căn bản phiền não. Tâm không còn ngăn ngại là vào kiến đạo, đoạn chấp phân biệt tùy nguyện sớm viên thành. Không còn sợ hãi đối với tu đạo vị, gia hạnh tăng thêm dứt hết mọi thứ điên đảo, xa lìa hết mọi sanh tử mộng tưởng nên không còn phải học nữa mới đạt Niết Bàn rốt ráo; Bốn vị đã sẵn sàng từ đó thêm tiến lên. Ngoài ra đến Cực hỷ địa hết thảy phiền não xấu ác và sở tri chướng bên ngoài thô trọng thảy đều đoạn dứt, mới có thể làm cho phiền não không hiện hành. Tâm không quái ngại, trước hết phải ngộ được trí vô lậu, vô công dụng và không chấp tướng hết thảy mọi chướng ngại không còn những phiền não đạt vô sanh pháp nhẫn và sở tri chướng thô phù bên ngoài đều đoạn dứt. Hết thảy phiền não hoàn toàn không còn hiện tiền nên không còn sợ hãi. Nhân từ quả có danh, quả đã đoạn nên tối thượng viên thành Bồ Tát địa. Mọi phiền não thói quen, ngủ nghỉ và các sở tri chướng cốt lõi thô trọng thảy đều đoạn dứt. Nhập Như Lai địa gọi là xa lìa mọi điên đảo vọng tưởng, tức đã đoạn sạch hai chướng và ba trụ tâm, do đây tới quả Phật đạt Niết Bàn rốt ráo.

“Ba đời chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa nên đạt vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Tán rằng, vì người tu nghĩa không nói, trên ca ngợi nhân y theo đoạn chướng nhiễm, dưới tán y quả mà đạt Bồ Đề vậy. Ba đời là quá khứ, hiện tại và vị lai, chư Phật là số nhiều không phải một. Chữ Phật tiếng Phạn là Phật Đà (Buddha), nay lược xưng là Phật lấy tuệ làm chính, dịch là bậc giác còn gọi là chứng đạt hơn. A là Vô, Nậu đa la là Thượng, Tam là chánh, Miệu là đẳng, Tam nữa là chánh, Bồ Đề là giác. Mạt già gọi là đạo mà ở đây không dùng từ này. Không pháp nào vượt qua nên gọi là Vô Thượng, lý sự biết hết gọi là chánh đẳng, lìa vọng chứng chân lại gọi chánh giác tức là Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đại Trí Độ luận rằng trí và trí xứ đều gọi là Bát Nhã, ba đời giác ngộ do y theo đây nên chứng trí ngộ Không gọi là đạt chánh giác, hoặc chỉ thuyết tánh Không gọi là Bồ Đề (tuệ giác). Như Lai thân tướng vi diệu tức là pháp thân, như đúng phải nói:  xuất ly sanh tử mà chứng  ngộ  tuệ trí như  từ  mộng tĩnh hợp với pháp tánh mà khai triển, thí dụ như hoa nở có đủ chân tục trí được tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật tiêu biểu là bậc tuệ giác viên mãn tuy thấy không tu song duy trì không ngưng việc cứu giúp mọi loài chúng sanh. Do đó cũng có thể nói Phật y nơi Bát Nhã mà y tức là tu vậy. Phật từ ngôi vị y Bát Nhã thực hành đạt được giác ngộ, đoạn này có năm phần như sau: 1. Tịnh pháp giới tức có nghĩa pháp thân Phật là chân như Niết Bàn đầy đủ chân tánh, công đức tuyệt vời. Do quán lý Không mà đạt quả vị nên ngoài bốn trí khác gọi là đức hữu vi, tức là chỗ chứng thọ dụng Phật thân. Nhân tu tự lợi mà đạt quả nên vị đại Bồ Tát hiện thân tướng trang nghiêm thanh tịnh. Phật thân quảng đại gọi là tha thọ dụng vì hàng nhị thừa hiện thân uế tịnh. Bất định Phật thân gọi là biến hóa thân đủ việc lợi tha do chỗ thích nghi mà hiện. Tự thọ dụng thân có đủ 140 pháp bất cộng về thật đức, nghĩa là các đức Như Lai đủ 32 tướng đại trượng phu; 80 vẽ đẹp tùy hình, bốn tâm thanh tịnh, mười lực, bốn vô sở úy (pháp không sợ), ba niệm trụ, ba pháp chẳng phòng hộ, tâm đại bi, không quên mất pháp, vĩnh viễn dứt lìa tập khí, hết thảy diệu trí, và ngoài ra còn có tám pháp giải thoát, 8 thắng xứ, 9 thứ đệ định, 10 biến xứ, bốn vô lượng, 3 môn giải thoát, 3 pháp vô sanh nhẫn, 37 phẩm trợ đạo Bồ Đề, năm nhãn, sáu phép thông, 4 vô ngại giải, vô tranh, nguyện trí, luôn trụ trong tánh xả, 18 pháp bất cộng cho chí nhứt thiết trí, chủng trí, vô lượng công đức nói không thể hết được. Thân thọ dụng và thân biến hóa cũng có đủ mọi công đức tương tợ như vậy. Công đức hữu vi bốn trí thâu nhiếp, lấy trí làm chính gọi Bồ Đề trí, pháp thân chân như là Bồ Đề đoạn đều gọi là Bồ Đề, do vậy nên biết đều xưng tán Bồ Đề. Mượn gọi Phật tức là mượn chung để ngộ được pháp riêng nên nói chư Phật y Bát Nhã đạt Bồ Đề, như thế bao hàm mọi công đức. Trí đoạn viên mãn đạt thành vô thượng giác, sanh khác hiểu dón gọn là chánh giác. Nhị thừa chia chẻ trí đơn giản gọi đẳng giác, Bồ Tát trí chưa đầy đủ là chánh giác, chỉ Phật chứng đắc viên mãn riêng đạt toàn danh hiệu.

Kinh Kim Cang có đoạn thuyết rằng: hết thảy chư Phật từ kinh này ra, tất cả Như Lai từ kinh này sanh, do vậy ba thân Phật đều là tuệ giác - Bồ Đề. Phần Lý Thú thuyết rằng, người tin học kinh này chóng đạt thành các hạnh Bồ Tát, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề nên Chánh Đẳng Chánh Giác đều do đây mà đạt.

- “Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú”. Tán rằng, vì người tu pháp không mà nói, trên đã bày riêng hai y của nhân quả đạt đến hai điểm lợi, dưới ca ngợi chung cái dụng của Bát Nhã. Tiếp theo trước nêu phần tóm kết, nói nên biết, chỗ diệu dụng khôn lường nói là thần, không tối không đèn là minh, tối thắng đệ nhứt là vô thượng. Không thứ gì có thể so sánh nên gọi vô đẳng đẳng. Đức Đại sư (Phật) bí mật nói cương lãnh diệu pháp để phá tà hiển chánh, trừ ác khuyến thiện, oai linh kính ngưỡng hiền thánh tuân thủ oai lực gia trì nên gọi là chú. Như đúng phải nói: chú tiếng Phạn là Đà la ni, dịch là tổng trì nói lược có bốn loại: 1. Pháp: đem lược lời giáo huấn  hàm trong cái sâu. 2. Nghĩa: đem lược nghĩa hàm trong cái rộng 3. Năng: đạt Bồ Đề vô sanh pháp nhẫn như đức Từ Thị thuyết rằng: một để mật để kiết để tỳ lê đê (2 lần), bát đà nị sá ha. 4. Chú: Như đại kinh thuyết rằng, nạp mộ bạt già phạt đế, nhứt bát thích hoại ba la nhỉ đa duệ (2 lần) đát điệt tha tam thất truật duệ, tứ thất truật duệ, ngũ thất truật duệ, lục thất truật duệ tế thất sá ha.

Chú này có thần lực quảng đại như Kinh nói. Hai năng lực niệm huệ hàm đầy đủ vạn đức, đây theo cách nói xưa nêu chung gọi là chú, tiếp theo trước tóm kết hai pháp hành, sau là phần trì chú, thuyết rằng “nên biết đó”ù. Do từ nghĩa tổng trì đây đi qua chúng sanh, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát bốn đường hoặc qua diệu dụng của văn tự quán chiếu tròn sáng, hàng quyến thuộc lợi ích hơn. Thật tướng không thí dụ hoặc bốn đường chung nên ở đây gọi Bát Nhã là thần chú. Hay cũng gọi chú Bát Nhã này là đại thần chú chí đến gọi là vô đẳng đẳng chú, thuyết để khuyến khích các hành giả đều phải nương kinh đây mà hành 10 pháp, như ngài Từ Thị có bài kệ:

Gọi biên chép cúng dường

Cho người nghe tụng thường

Đúng khai triển thọ trì

Đọc tụng lẫn tư duy

Mười pháp kẻ thọ trì

Được vô lượng phước đức

Hơn đó không hết được

Do trì chú không dứt

- “Hay trừ hết thảy khổ”. Tán rằng trước làm sáng tỏ  các đức, nay làm rõ việc phá ác; người tin ngộ được lời nói dứt trừ hết thảy mọi chướng, che tâm đều không nhiễm. Dù người gây tạo nhiều ác nghiệp cực nặng nhưng có thể vượt qua các nẽo ác (thú), như giết chúng sanh ba cõi, không do việc này mà đọa địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ. Giá như trong các nghiệp phiền não nhưng do sanh nơi liên hoa nên hoàn toàn không bị nhiễm mà luôn hòa hợp với những việc tốt. Trong đây chúng sanh được trí vô ngại hay khéo ngộ nhập các tánh bình đẳng. Tự phẩn nộ và làm người khác tức giận đều có thể điều phục; đối với mọi oán thù trong đời này đêàu khởi tâm từ, thường gặp chư Phật đạt được túc trí (trí biết trước). Như được nghe Phật Pháp, ấn chú không quên mất, được pháp hỷ lạc luôn hiện ra trước mắt, thường chuyên tinh tấn tu tập các thiện pháp nên bọn ác ma, ngoại đạo không thể xâm (phạm) hại. Trời Tứ Thiên Vương thường theo ủng hộ và tránh khỏi chết oan, chết yểu, tang nạn… Chư Phật, Bồ Tát luôn hộ trì làm cho mọi lúc tăng thiện giảm ác. Nơi Phật quốc của chư Phật tùy nguyện được vãng sanh không đọa ác thú cho tới khi chứng quả giải thoát, chóng đạt hạnh Bồ Tát viên mãn, mau chứng vô thượng chánh đẳng Bồ Đề, tùy tâm đã nguyện không đâu chẳng thành tựu viên mãn. Nhờ vậy từ cung thành tới tứ chúng nên tụng niệm để mà hàng phục, cung trời dùng Thiên nhãn mới thọ trì mà oán tiêu tan, huống là tự mình tâm thành khẩn thiết gieo nhân lành gặt quả tốt, không rơi vào năm đường ác, theo gót 10 phương chư Phật mà làm chủ chưa hề có.

- “Chân thật không hư”: Tán rằng để dứt nghi vấn khuyên người phát lòng tin mà nói lại lời này: làm sao Phật từ bỏ địa vị luân vương giàu sang vào rừng sâu vắng vẻ và bỏ hết mọi thứ trang sức để được tôn xưng là Từ phụ pháp vương. Theo chân các đạo sĩ mà được vinh danh trong hàng long tượng, Ngài là người dẫn dắt trời, người, khuyến dẫn chúng sanh thật là chưa hề có. Do vậy kinh thuyết rằng Như Lai là chân ngữ nhẫn đến không nói lời sai khác, nên phải tin tưởng phụng hành chớ khởi niệm hồ nghi.

- “Nên nói Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú; liền nói chú rằng: vượt nhanh thoát, vượt nhanh thoát, vượt thoát, thoát qua bờ bên kia đạt tuệ giác, sá ha”. Tán rằng trên nói pháp có hai nghĩa trì để khuyên người tin mà thực hành là muốn sự linh diệu chóng hiệu dụng nên nói “trì” vậy. Phật đã trãi qua một đại kiếp dùng bi trí khổ tu với lực thệ nguyện kiên cường mà ở đây lược bớt không nói hết. Ý kinh thâm viễn lời dạy vô cùng hàm dung nghĩa rộng không dễ gì tán dương hết được.

 

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa tán nghĩa mầu

 

Quyển hạ hết

 

 

 

Đại chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh,

quyển 33, số 1710, từ trang 523 đến trang 542

Dịch xong ngày 16 tháng 6 năm 2005

(Mồng 10 tháng 5 năm Aát Dậu)

Pháp Bảo Tự Viện – Sydney

Sa môn Thích Bảo Lạc

Cẩn khải

 

 

 

 

 

 

Chú Thích

 

(1)     Ngũ uẩn, tứ đại: ngũ uẩn là năm sự tập họp hay chứa nhóm thành một hợp thể thân và tâm thức con người gồm: sắc tức hình sắc; thọ là cảm thọ (vui, buồn, sướng khổ…), tưởng là suy tưởng, nghĩ ngợi, hành là hành động, thức là phân biệt nhận thức. Bốn uẩn sau (thọ, tưởng, hành, thức) thuộc tâm thức hay tâm lý hợp với sắc thân – vật thể hay sinh lý. Tứ đại là bốn yếu tố vật lý phổ quát tạo thành thân thể gồm có: đất, nước, gió, lửa (đại có nghĩa cùng khắp, phổ quát)

(2)      Cửu khiếu: chín lỗ bài tiết từ thân thể con người như: hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, lỗ miệng, đường tiểu và đại tiện.

(3)     36 món bất tịnh nơi cơ thể gồm: tóc, lông, răng, móng, ghèn, nước mắt, nước mũi, gàu, mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện, da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ chài, mỡ nước, óc, màng, lá lách, thận, tim, gan, mật, phổi, ruột già, ruột non, dạ dày, đàm đỏ, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng, thường bài tiết ra chín lỗ.

(4)     Nhị trí: hai trí của thế tục trí và vô sanh trí (xuất thế trí)

(5)     Bảy món lậu (phiền não) 1) Kiến lậu: mắt trông  thấy  sắc  không rõ  sắc  thật  tánh  là  bình  đẳng cứ đắm vào phần sắc tướng sanh tâm phân biệt, nhận cảnh tốt xấu mà sanh tâm yêu ghét. 2) Chư căn lậu: không chỉ nhãn căn mà các căn khác cũng vậy 3) Vọng lậu: quên điều lành, dong ruỗi theo điều ác 4) Aùc lậu: đối với nghịch cảnh sanh tâm ghét bỏ 5) Thân cận lậu: không tuân lời thầy dạy, gần gũi bạn ác. 6) Ái lậu: gặp cảnh thuận liền ham mê mải miết không rời 7) Nghi sử: sự ngờ vực sai sử (bó buộc).

(6)      Bồ tát Vô Trước: (tiếng Phạn là Ashangha) là anh của Ngài Thế Thân hay Thiên Thân Bồ Tát đều là Tổ của Tông Pháp Tướng. Cả hai đều chuyên sâu về Pháp tướng Duy Thức qua các bộ luận Du Già và Duy Thức còn truyền tới nay.

(7)     Bốn phép đẳng trì: biệt danh của Định dịch từ chữ Samadhi, chỉ cái tâm trụ một cảnh, bình đẳng duy trì. Bốn phép định là: 1) Không đẳng trì 2) Vô tướng đẳng trì 3) Vô nguyện đẳng trì 4) Tâm chẳng tán loạn. Đẳng trì là định, chánh định.

(8)      Hậu đắc trí: cái trí sâu kín hợp chân như nên còn gọi là Vô phân biệt trí, hay Căn bản trí; cũng gọi là tục trí, như lượng trí, vì đó là trí sở đắc sau căn bản trí.

(9)      Tám tướng: (hay tám tướng thành đạo): các kinh, luận, thuyết minh không giống nhau. Theo Đại Thừa Khởi Tín luận thì 8 tướng đó là: 1) từ cõi trời Đâu Suất giáng sanh 2) Nhập thai 3) Trụ thai 4) Xuất thai 5) Xuất gia 6) Thành đạo 7) Chuyển pháp luân 8) Nhập Niết Bàn. Tứ giáo Nghi q.4. Ghi tám tướng thành đạo gồm: 1) Từ cõi trời Đâu Suất mà giáng hạ, 2) Thác thai 3) Xuất sanh 4) Xuất gia 5) Hàng ma 6) Thành đạo 7) Chuyển pháp luân 8) Nhập Niết Bàn.

(10)   Bốn chướng là bốn thứ ngăn trở con đường tu đạo Bồ Đề. Đó là 1) hoặc chướng, tức tư hoặc tham dục, sân nhuế, ngu si v.v… 2) nghiệp chướng: ác nghiệp do thân, khẩu, ý tạo ra 3) báo chướng: tức là khổ báo ở ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh 4) Kiến chướng là những tà kiến.

(11)   Bảy chúng thuộc hàng đệ tử của Phật gồm 5 chúng xuất gia là: sa di, sa di ni, thức xoa ma na, tỳ kheo, tỳ kheo ni và hai chúng tại gia là ưu bà tắc và ưu bà di tức nam, nữ Phật tử.

(12)   Thập trụ: 10 trụ tâm (theo dòng nghịch lưu): 1) tin sâu nhân quả 2) tâm rất xấu hổ 3) tâm rất sợ sệt 4) phát lồ sám hối 5) tâm đoạn dứt tương tục 6) phát Bồ Đề Tâm 7) đoạn ác tu thiện 8) giữ gìn chánh pháp 9) Niệm nghĩ mười phuơng chư Phật 10) Quán tội tánh không.

(13)   Tượng pháp: giáo pháp Phật chia ra thành 3 thời kỳ: Chánh pháp; Tượng pháp và Mạt pháp. Tượng pháp sau Phật diệt độ 500 năm. Nay là thời mạt pháp.

(14)   Năm thứ che tâm (ngũ cái) làm cho chẳng sanh thiện pháp. Đó là: 1) tham dục: chấp chặt năm dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) mà che lấp tâm 2) sân nhuế: giận dữ đối với cảnh trái tình làm che mất tâm tánh 3) thùy miên: tâm mê muội, thân xác nặng nề chẳng xử dụng nổi che lấp tâm tánh 4) trạo hối: tâm tháo động lao chao, lo lắng phiền não về những việc đã làm, gọi là hối, để đến mức che lấp tâm tánh. 5) nghi cái: đối với việc gì cũng mờ ám, không biện biệt được chân ngụy, tâm do dự không quyết đoán.

(15)   Ba Khổ: 1) Khổ khổ: cái khổ này chưa dứt tiếp tục theo cái khổ khác. 2) Hoại khổ: hư hao tan hoại gây nên khổ 3) Hành khổ: hành nghiệp tạo nên nhiều điều khổ não. Những nỗi khổ này cùng với khổ của sanh, già, bịnh, chết, thương yêu nhau phải xa lìa, cầu không được toại nguyện và thân ngũ ấm mất quân bình gây nên khổ đau thống thiết.

(16)   Đại kiếp:  chỉ một  chu  kỳ  của   thành,  trụ,  hoại, không  gồm  4  trung kiếp hình thành. Một tiểu kiếp là 16 triệu 800 ngàn năm.      (16,800,000 x 4 x 4) thành một trung kiếp. Như vậy một đại kiếp là 268,800,000 năm.

(17)   Ba huệ: gồm có văn huệ, tư huệ, và tu huệ. Ba môn trí huệ này cũng gọi là ba môn vô lậu học, nhân tu tập mà đạt được.

(18)   Ngũ minh: 5 môn học quan trọng trong Phật giáo. Đó là: 1) Công xảo minh: về kỹ thuật các ngành v.v… 2) Thanh minh: ngành truyền thông vệ tinh v.v… 3) Nhân minh: luận lý học – khoa học về lý luận 4) Y phương minh: ngành y học, bệnh lý, trị liệu… 5) Nội minh: chứng ngộ nội tâm hoặc khai ngộ. Thiền quán để quán chiếu trí tuệ.

(19)   Tam tụ tịnh giới: ba điểm hội tụ giới đức thanh tịnh. Đó là: 1) Nhiếp luật nghi giới: giữ gìn giới luật một cách nghiêm minh không sai phạm 2) Nhiếp thiện pháp giới: tinh tấn làm tất cả điều thiện, dù việc nhỏ đến đâu. 3) Nhiêu ích hữu tình giới: làm lợi lạc mọi loài chúng sanh mà không phân biệt đối xử.

(20)   Diệu giác: tự mình giác ngộ và giác ngộ cho người tròn đầy không thể nghĩ bàn, tức là Phật quả vô thượng chánh giác. Hàng Nhị thừa chỉ dừng ở tự giác và giác tha, nhưng chưa tròn đầy trọn vẹn. Chỉ có Phật mới đạt được toàn giác nên gọi là diệu giác.

(21)   Bốn tịnh ngữ: bốn loại phát ngôn thanh tịnh là không nói dối hay đặt điều, không nói lời đường mật ngọt ngào trau chuốt, không nói  lưỡi đôi chiều và không nói độc ác, mắng chửi…

(22)   Tám thánh ngữ:  8 lời nói chánh trực đúng đắn là 1. không trông thấy nói là không trông thấy 2. không nghe nói là không nghe 3. không nhận ra nói là không nhận ra 4. không hiểu biết nói là không hiểu biết 5. đối với các sự việc nhìn thấy nói là nhìn thấy 6. nghe thấy nói là nghe thấy 7. nhận ra nói là nhận ra 8. biết được nói là biết được.

(23)   Tám điều trói buộc (bát triền): 1. Vô tàm: không cảm thấy xấu hổ về tội lỗi đã gây ra 2. Vô  quí: trước người không thấy thẹn về lỗi quấy đã phạm 3. Tật (ghen ghét): tâm không vui đối với những sự tốt lành thịnh vượng của người  khác 4. Xan: keo kiệt bủn xỉn 5. Hối: hối tiếc về những việc thiện đã làm 6. Miên: khiến tâm tàm hối 7. Trạo cử: làm cho tâm chao động chẳng yên 8. Hôn trầm: tâm u tối nặng nề.

(24)   Mười ác nghiệp do thân, miệng, ý tạo ra như: - thân 3 nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm – miệng 4 nghiệp: nói dối, nói lời điêu ngoa đểu cáng, nói lưỡi 2 chiều, nói lời độc địa thâm hiểm. – ý 3 nghiệp: tham, sân, si.

(25)   Tám tướng thành Phật: xem chú thích 9 ở trước.

(26)   Quy y: hướng về nương tựa ba nơi an toàn: hướng về nương tựa Phật, hướng về nương tựa Pháp, hướng về nương tựa Tăng; với sự tha thiết tâm thành chắc hẳn không đọa lạc vào 3 đường xấu ác.

(27)   Thập lực: 10 trí lực của Như Lai, đó là: 1) Tri giác xứ phi xứ trí lực: trí biết sự vật nào đạo lý, phi đạo lý; 2) Tri tam thế nghiệp báo trí lực: biết rõ nhân quả nghiệp báo ba đời của chúng sanh; 3) Tri chư Thiền giải thoát tam thế trí lực: biết các thiền định, tám giải thoát, ba tam muội; 4) Tri chúng sanh tâm tính trí lực: trí biết hết mọi tâm tánh chúng sanh 5) Tri chủng chủng giải trí lực: biết hết mọi hiểu biết của tất cả chúng sanh; 6) Tri chủng chủng giới trí lực: biết hết và đúng như thực các cảnh giới khác nhau của chúng sanh. 7) Tri nhứt thiết sở đạo trí lực: biết rõ các cõi mà người tu hành sẽ đạt tới như cõi trời, cõi người, Niết Bàn v.v… 8) Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: vận dụng thiên nhãn nhìn thấy sanh tử và nghiệp thiện ác của chúng sanh mà không chút chi ngăn ngại 9) Tri túc mạng vô lậu trí lực: biết rõ đời trước của chúng sanh, lại còn biết rõ vô lậu Niết Bàn 10) Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: có thể biết rõ được như thực đối với mọi tâm hư vọng hoặc sẽ vĩnh viễn đoạn diệt chẳng sinh.

(28)   Hữu lậu, vô lậu: hữu lậu tức là còn phiền não câu thúc và bị trói buộc; vô lậu: là sạch phiền não, không còn nhiễm ô mà hoàn toàn thanh tịnh.

(29)   Bốn tâm vô lượng là bốn tâm rộng lớn: từ, bi, hỷ, xả 1) Tâm từ ban vui: 2) Tâm bi cứu khổ 3) Hỷ là tâm vui mừng khi thấy người khác khỏi khổ được vui 4) Xả: tâm hoan hỷ không còn chấp trước. Bốn tâm này dựa vào bốn thiền định tu hành mà thành tựu làm lợi lạc tất cả chúng sanh nên gọi là bình đẳng tâm.

(30)   Chuyển luân thánh vương: có nhiều tên gọi như chuyển luân thánh đế, luân vương. Theo Luận Trí Độ q.4 ghi: vị quốc vương khi lên ngôi do thiên cảm mà có được luân bào, rồi lại vận chuyển luân bào đó mà hàng phục bốn phương nên gọi là chuyển luân thánh vương. Có thể gìải thích chuyển luân thánh vương là vị quân vương có thế lực cai trị nhiều nước nhỏ chung quanh.

(31)   Tứ châu: bốn châu là Đông Thắng Thần Châu, Tây ngưu hoá châu, Nam thiệm bộ hay còn gọi là Nam diêm phù đề là châu chúng ta đang ở và Bắc cu lô châu nơi miền bắc cực giá băng quanh năm  hầu như không có ánh mặt trời.

(32)   Cõi đại thiên tức là đại thiên thế giới: thế giới chia thành: tiểu thiên, trung thiên, và đại thiên. Gồm chung bốn đại châu, mặt trăng, mặt trời, chư thiên lại thành một thế giới. Một ngàn thế giới gọi là tiểu thiên, 1000 tiểu thiên thành một trung thiên thế giới. 1000 trung thiên thế giới thành một đại thiên thế giới hay cõi đại thiên.

(33)   Các pháp trợ đạo bồ đề: gồm có 37 phẩm thứ tự như sau: - bốn chánh cần: điều ác chưa sanh, đừng cho sanh; điều ác đã sanh khiến cho tiêu diệt; điều thiện chưa sanh làm cho sanh, điều thiện đã sanh làm cho tăng trưởng. – bốn niệm xứ: quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ; quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. – bốn như ý túc: dục, tinh tấn, niệm, định như ý túc – năm căn: tín, tấn, niệm, định, huệ căn – năm lực: tín, tấn, niệm, định, huệ lực – thất bồ đề phần: trạch pháp, hỷ, tinh tấn, khinh an, niệm, định, xả – bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh mạng, chánh niệm, chánh định.

(34)   Diệt tận định: còn gọi là diệt thọ tưởng định: Diệt tận tam muội là một trong 2 vô tâm định, là loại Định diệt tận tâm, tâm sở của lục thức mà không để bị trói buộc nữa. Đây là pháp Định rất cao của các bậc Thánh giả từ quả Bất Hoàn trở lên. Bậc Thánh vượt qua tầng trời Phi tưởng Phi Phi tưởng để nhập vào Niết Bàn. Loại Vô tâm định của ngoại đạo đượïc gọi là Vô tưởng định, thuộc đệ tứ thiền.

(35)   Đệ nhứt nghĩa: điều quan trọng nhất, điều đầu tiên của sự lý gọi là đệ nhứt nghĩa. Lý thâm diệu tuyệt đỉnh, không gì cao sâu hơn.

(36)   Vô sanh nhẫn: an trụ ở cái lý không sanh không diệt mà không động. Đây là nhẫn thứ tư trong ngũ nhẫn theo kinh Nhân Vương Trí Độ luận quyển 50: “vô sanh nhẫn pháp là đối với thực tướng không sinh siệt của các pháp tin nhận thông suốt, không vướng mắc, không thoái lui, nên gọi là vô sanh nhẫn”.

(37)   Pháp vương: vua pháp chỉ Đức Phật là vua của các pháp, bậc tự do tự tại không bị lệ thuộc ràng buộc vào bất cứ một pháp nào nên gọi là pháp vương.

(38)   Pháp quán đảnh: lễ tôn giáo rưới nước lên đỉnh đầu. Ngày xưa ở Ấn Độ, khi vị tân vương lên ngôi, người ta tổ chức nghi lễ quán đảnh thật long trọng. Trong buổi lễ, vị đứng đầu Tăng chúng trong nước làm phép lành rưới nước của bốn biển lên đầu đức vua.

(39)   Trong chư Tăng tại một số nước Phật giáo khi làm lễ truyền giới, truyền pháp, người ta cũng theo nghi thức vị sư trưởng rưới nuớc lành lên đầu người mới được thọ giới.

(40)   Hạnh thắng giải: hạnh nhận biết rõ ràng, dứt khoát. Một trong 5 tâm sở biệt cảnh, theo môn Duy Thức học. Tác dụng của hạnh thắng giải là phá nghi, xóa hết nghi, trong nhận thức không còn phân vân nữa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tâm kinh

Bát nhã ba la mật đa tán

Sa môn Viên Trắc tuyển dịch

Tỳ kheo Thích Bảo Lạc

dịch từ Hán văn sang Việt văn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tâm Kinh Bát Nhã

Ba La Mật Đa Tán

 

Nay giải thích Kinh Bát Nhã chia thành bốn mục:

1.   Trước dạy pháp nhân duyên

2.   Bàn về tông thể của kinh

3.   Giải thích các phần mục

4.   Nhận xét phê bình

1. Trước nhất Phật dạy về nhân duyên: nói dạy  bắt đầu từ cạn đến lý sâu tuyệt nhiên thăm thẳm không còn thấy có hữu vô. Pháp tướng (tánh) thâm sâu siêu việt không thể dùng ngôn ngữ biểu đạt, song chỗ lý thú thật là vô cùng phải khai hai tạng lập giáo có chỗ y cứ nên Phật hiện ba thân. Có thể nói: oán địch manh động, trống trời tự khua như nước suối lắng trong ánh trăng lộ hiện, nhưng phải ứng vật hợp thời tùy căn cơ mà dẫn dắt. Do vậy Phật ba lần chuyển xe pháp cho người chưa hiểu khiến hướng về nguồn chân nên tại vườn Lộc Uyển nước Ba La Nại, ban đầu Phật dạy Nhân Quả sanh tử, Niết Bàn. Lần đầu tiên Phật giảng pháp tứ đế để trừ ngã chấp, cho người đã hiểu hướng đến Đại Thừa. Tại núi Linh Thứu Phật thuyết Kinh gồm 16 hội mà trong số có các Kinh Bát Nhã. Kinh Bát Nhã là pháp vô tướng thứ hai, nhờ đây mà dần đoạn dứt pháp chấp Hữu, nhưng đối với chấp Không vẫn chưa đoạn dứt. Do đó nơi liên Hoa Tạng lần thứ ba Phật giảng về cõi tịnh, cõi uế nói nghĩa thâm mật của Đại Thừa, đạo lý Hữu – Vô cả hai đầy đủ. Song ngoài hai pháp Hữu Vô ra còn chấp một bên nên Phật mới giảng pháp nhân duyên này.

2. Bàn về tông thể của kinh: tông thể mà thể nói chung là lời dạy rõ ràng sáng tỏ; còn tông hay tôn là làm sáng các điểm dạy riêng. Song Phật dạy thể theo các thuyết không giống nhau. Phái Tát Bà Đa dùng thanh làm thể, đem so sánh thanh vô ký cho là thiện. Nhưng dựa theo Kinh bộ các tông liên tục mượn thanh, lìa thanh không khác nên gọi là câu sánh vậy. Theo các tông Đại Thừa không đồng nhất có kinh chỉ dùng thanh như Vô Cấu Xưng hoặc có Phật Quốc lấy âm thanh làm Phật sự, có kinh chỉ dùng tên làm thể như Thành Duy Thức. Pháp không ngại trí danh lấy làm cảnh hiệp chung thanh và danh như Kinh Thập Địa. Giảng cho người nghe phải y cứ hai việc, nói thanh, danh như thế nào? Các phái có điểm dị biệt nầy, căn cứ sự thật nêu cái giả, từ thật dùng thanh và danh làm thể tánh, nhưng những lời Phật dạy mỗi phần y cứ một nghĩa nên không trái nhau. Tại sao vậy? Vì mượn cái thật dùng danh làm thể, nên lìa thanh không khác danh vậy. Lấy thể từ dụng danh lấy thể đây chỉ rõ các pháp tự tánh sai biệt. Hai chỗ nương gá mượn thật tướng gốc hiệp làm thể, thiếu một đều bất thành. Cho nên cảnh theo tâm dùng thức làm thể. Kinh thuyết rằng các pháp không rời thức cho nên nhiếp vọng về chơn dùng Như làm thể. Các kinh Nhân Vương thuyết minh các pháp tánh chỗ hiển tỏ tông lược có ba loại: Tùy căn bệnh nêu riêng, mỗi bộ kinh có tông chỉ riêng, phỏng thời luận tông 1) Tùy căn bệnh nói tông riêng nghĩa là chúng sanh do vô minh nên khởi tham, sân, si và 84 ngàn phiền não. Vì thế đức Như Lai ứng bịnh cho thuốc, nói uẩn xứ… 84 ngàn pháp môn, do các pháp này mà mỗi căn bệnh theo đó thích ứng như uẩn, xứ, giới v.v… là điểm làm hiển tỏ tông chỉ. 2) Mỗi kinh có tông chỉ riêng: đối với mỗi bộ kinh tuy có nhiều môn, mỗi môn đi sâu vào ý thú theo mỗi kinh khác nhau. Như Kinh Pháp Hoa lấy nhứt thừa làm tông, còn Kinh Niết Bàn lấy Phật tánh làm tông, Kinh Vô Cấu Xưng lấy pháp bất nhị (không hai) làm tông. Kinh Hoa Nghiêm lấy nhân quả của Thánh Hiền làm tông. Từ đó các phái khác y cứ như trên làm chuẩn cần phải biết. 3) Phỏng theo thời lập tông: tuy các bộ Thánh điển có nhiều loại nhưng tựu trung luận tông không ngoài ba loại: Ba loại đây là pháp Tứ Đế vô tướng nghĩa rốt ráo của Đại Thừa như Kinh Giải Thâm Mật, nên ở đây cốt nêu Bộ Kinh này trong các tông lấy vô tướng làm tông.

3. Giải các đề mục: Phật thuyết tâm kinh Bát nhã Ba La Mật Đa: đề mục, Phật thuyết là chủ tiêu biểu, Phật là tiếng Phạn, Tàu dịch là giác, đầy đủ chân tục trí của tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn gọi là Phật. Phật khai các pháp môn vi diệu làm cho chúng sanh hiểu rõ nên gọi là thuyết. Bát nhã ba la mật đa là pháp được nói đến, mà Tàu dịch là đáo bỉ ngạn (đến bờ kia – giải thoát), tâm kinh là ý chính của lời dạy cần làm sáng tỏ; trong phép nghiệm đạo tâm vương (1) độc đặc đối với bát nhã. Lời dạy này vô cùng cao tôn, từ dụ mà lập danh nên gọi tâm vậy. Chữ Kinh có hai nghĩa xuyên suốt và nhiếp trì; xuyên suốt để hợp với lời nói, nhiếp giữ chỗ giáo hóa độ sanh. Đây dựa vào chủ yếu đối với năng sở làm rõ pháp dụ lập danh nên Phật thuyết tâm kinh Bát nhã ba la mật đa.

4. Bình luận và giải thích: Bồ Tát Quán Tự Tại, đối với Kinh Bát Nhã nhìn chung gồm trong ba phần: soi sáng trí năng quán, phần tiếp theo Xá Lợi Tử và cuối cùng bàn về cảnh sở quán, sau dùng vô sở đắc và tiếp hiển bày quả đạt được. Kinh không có phần tựa và phần kết vì đối với bát nhã lấy điểm chính khúc chiết nên chỉ có phần chính tông mà không có phần mở đầu và phần kết như kinh Quan Aâm nên không có đầy đủ ba phần. Bồ Tát Quán Tự Tại chú trọng vào phần đầu và phần giữa là hai phần chính. Phần đầu tiêu biểu người năng quán, kế luận về trí được quán; đây là phần thứ nhứt nêu rõ người năng quán, nếu theo sách xưa gọi là Quán Thế Aâm, quán mọi pháp thế gian, gọi danh hiệu Bồ Tát dùng âm thanh ngôn ngữ để cứu khổ nạn, nhân đó mà xưng danh hiệu Ngài là Quán Thế Aâm. Do chưa có thể quán chiếu thân, ý nghiệp nên kinh này gọi là Quán Tự Tại; Quán Tự Tại trong chứng hai pháp không ngoài quán ba nghiệp không dựa vào công dụng thong dong tự tại nên gọi là Quán Tự Tại. Vị Bồ Tát này đúng là nhân vật nhất sanh bổ xứ, vì đã thành Phật mà như còn bị thiếu một cái gì vậy! Nếu là Bồ Tát làm sao thích hợp với Quán Aâm Tam muội. Kinh Quán Âm tam muội thuyết rằng, Phật bảo A nan: nay ta dẫn đạo như thật chân thật không hư. Ta nghĩ Bồ Tát Quán Thế Âm thành Phật trước ta hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lúc bấy giờ ta làm đệ tử tu khổ hạnh dưới vị Phật kia. Nếu là Phật làm sao thích hợp được Quan Âm thọ ký. Kinh ấy thuyết rằng, này thiện nam tử, đức Phật A Di Đà thọ mạng lâu đến một trăm nghìn ức kiếp mới có chung cuộc nên nhập Niết Bàn. Lại này Thiện nam tử, đức Phật A Di Đà sau khi chánh pháp diệt nửa đêm lúc những ngôi sao sáng rực xuất hiện thì Bồ Tát Quán Thế Aâm ngồi thiền dưới cây thất bảo Bồ Đề mà thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương  Như Lai, đầy đủ 10 hiệu của Phật, cho chí tên cõi nước, đồ trân quí trang nghiêm. Lại Phật Vô Lượng Thọ nói rằng: Bồ Tát Quán Âm ở quốc độ kia tu hạnh Bồ Tát lúc mạng chung hóa sanh vào cõi Phật Ngài. Giải thích: Quán Âm: cùng tên khác người, vị xa xưa kia và vị đang nói đây hằng chẳng có chi trái nghịch nhau; như Kinh Pháp Hoa, chư Phật cùng hiệu ngày tháng chứng đạo v.v… Tưởng cần giải thêm, chính Quán Aâm có hai hạng một là thật, hai là hóa hiện 1. Quán Âm mang thân thật như Kinh Quán Âm. 2. Hóa thân như Kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Pháp Hoa luận rằng, Thích Ca Như Lai thành Phật tuy có hai lối giải thích khác nhau, về sau hiểu thuận theo thánh điển không sai trái khác biệt.

Thứ nhì: biện giải trí năng quán: “Lúc thực hành sâu xa Bát nhã ba la mật đa”, trong đó có 2 điểm đáng bàn: trước nêu rõ thể của trí và sau bàn đến dụng của trí. Nay bàn về thể của trí, hành là tu tiến thuộc về trí năng quán, thâm là sâu sắc, thâm có hai loại: 1. hành thâm (thực hành sâu sắc), không phân biệt nội trí ngộ pháp hai Không lìa hết mọi phân biệt. Không thấy có năng sở hành lấy tướng hành nên gọi hành thâm (thực hành đi sâu vào trong). Kinh Đại Phẩm thuyết rằng không thấy hành không thấy chẳng hành là Bồ Tát hành Bát nhã thâm sâu. 2. Cảnh thâm: nghĩa là hai Không lìa luôn cả hữu-vô tướng, dứt hết mọi hý luận (bàn tính suông), ngộ trí vô phân biệt. Đây là cảnh sâu thẳm nên nói thực hành thâm sâu. Bát Nhã là tiếng Phạn, dịch là Trí, gọi Ba La là bỉ ngạn (bờ kia), mật đa là đáo, nếu thuận phải nói: trí đạt đến bờ kia – bờ giải thoát. Từ đó mới nói rằng trí đạt được giải thoát. Nhân trí đoạn sạch chướng đạt thành Niết Bàn, vì thế nên nói là trí đáo bỉ ngạn. Thời tức là thời phân như Trí Độ luận  nói: nương pháp hữu vi mượn gọi là thời phân mà số không phải là uẩn, xứ v.v… của các pháp bị thu nhiếp. Diệu Môn luận cũng có cùng giải thích này nên luận ấy cho rằng, nhân pháp giả danh thời lìa pháp không có biệt thời. Kinh Du Già thuyết rằng pháp hữu vi trên - trước - sau phân đơn vị mượn lập thời phân. Các pháp không tương ứng bị hành uẩn thu nhiếp. Theo Kinh Phật Địa cũng đồng với thuyết này luận rằng, lập không tương ứng đơn vị thời phân hoặc do tâm ảnh hiện giải thích chung theo ý nghĩa. Bát Nhã có ba loại là Văn tự Bát nhã, Quán Chiếu bát nhã và Thật Tướng bát nhã, vì để hiển lộ sự quán chiếu, giản đơn thật tướng nên nói là hành thâm. Bát nhã ba la mật đa thời nên nêu rõ ba loại Bát Nhã.

Quán chiếu năm uẩn đều không: luận về chỗ dụng của trí, dụng có hai: tự lợi và lợi tha. Ở đây làm rõ pháp quán Không tức là tự lợi, giải thích câu văn này nắm rõ pháp quán, sau y theo pháp quán trước đó. Câu kinh trên giải thích như sau, luận các pháp quán, nêu Phật Pháp thậm thâm song vốn chỉ một vị, hành giả chưa ngộ nên Phật nói có khác nhau. Do vậy, đức Thế Tôn trong kinh Phật Địa, Phật dạy: này Diệu Sanh cũng ví như nhiều dòng nước lớn nhỏ lưu lộ chưa dẫn vào tới đại dương mỗi dòng đều nương theo lượng nước mà có sai biệt, tuy nước không hề tăng giảm. Bồ Tát cũng như thế, khi chưa chứng nhập pháp giới thanh tịnh của Như Lai như đại dương không khác, trí sở y không sai biệt, trí không tăng giảm, thọ dụng hòa hiệp thành một vị (vị giải thoát). Ngài Thân Quang giải thích rằng một ngàn năm trước Phật pháp chỉ một vị, qua một ngàn năm sau không có gì trái nhau. Sau khi đức Phật diệt độ 1000 năm, tại miền Nam Ấn nước Kiện Chí có hai vị Bồ Tát đồng thời xuất hiện ra đời, một là Ngài Thanh Biện, hai là Ngài Hộ Pháp, các Ngài muốn cho chúng sanh hiểu sâu Phật pháp nên lập Không tông, Hữu tông cùng hợp ý Phật! 1) Bồ Tát Thanh Biện lập Không bỏ Hữu nhằm trừ bỏ chấp hữu; Bồ Tát Hộ Pháp lập Hữu bỏ Không nhằm trừ bỏ chấp Không. Nhưng Không chẳng trái với Hữu, tức lý Không không phải rỗng không; không trái với Không là nói sắc tự thành, cũng Không cũng Hữu thuận chiều thành hai, chân lý không phải rỗng không, phi hữu khế hợp với trung đạo mà đại ý Phật pháp đâu chẳng do đây ư? Hỏi rằng: bàn Hữu-Vô có hợp đại ý Phật Pháp không? Trả lời: Thà chấp Ngã hơn lý luận thật là trái thánh điển, hơn thế Phật vì muốn cho Bồ Tát giải thoát, huống nữa nhị vị Bồ Tát này có ảnh hưởng hổ tương nhau lại làm cho nảy sanh hiểu sai ý Phật sao? Do điểm nghi ngờ ấy ở đây cần giải lược hai pháp quán: 1. Ngài Thanh Biện dựa theo Bát Nhã và tông chỉ của Ngài Long Mãnh thành lập một pháp quán, qua diễn trình các pháp quán tướng, ảnh tượng là không và chủ trương cho rằng hết thảy các pháp đều là không, không sanh không diệt, bản lai vắng lặng, tự tánh an nhiên. Do đó, Kinh Kim Cang thuyết rằng, hết thảy các pháp hữu vi như mộng ảo, như bọt sóng, như sương, như điện chớp, phải quán sát như thế. Lại như Kinh Tư Ích cũng thuyết rằng, dùng tâm phân biệt các pháp đều là tà, không để tâm phân biệt các pháp là chánh. Và ngoài ra, Trung Luận cũng luận rằng “như có chỗ chẳng không nên phải có Không”. Chẳng không còn Không có huống gì là không chứ! Lại cũng Trung Luận cho rằng: Chư Phật hoặc nói ngã hoặc lúc nói phi ngã, song nơi thật tướng các pháp không ngã không phi ngã”. Những câu dẫn chứng như thế không phải chỉ một, do vậy Ngài Thanh Biện dẫn theo Chưởng Trân luận rằng: thật tánh pháp hữu vi là Không như huyễn (giả dối) do duyên sanh nên pháp vô vi không thật hữu chẳng sanh không giống hoa đốm giữa hư không.

2. Bồ Tát Hộ Pháp y Kinh Giải Thâm Mật và tôn chỉ Bồ Tát Di Lặc thành lập một pháp quán, vì thức che cảnh luận quán Không và đưa ra luận điểm rằng tất cả các pháp thông giữa Có và Không, do tánh giả lập biết tình có mà lý không; song tánh tùy thuộc do nhân duyên mà có, trong khi tánh tuyệt đối (viên thành thật) lý Có không phải là Không. Do vậy, kinh Giải Thâm Mật thuyết rằng: “tùy thuộc vào sở chấp nên nói các pháp đều không có tự tánh. Kinh Bảo Tích cũng luận rằng: nếu bác các pháp vô tánh, Ta cho đó là bị bất trị. Luận Du Già dẫn rằng tùy thuộc tánh bị chấp nên Khế Kinh nói rằng, hết thảy các pháp đều không có tự tánh”. Biện Trung Biên luận có bài tụng: “do hư vọng phân biệt mà có trong đó cả hai đều không; trong không chỉ có Không, trong cái kia cũng có cái này”. Cho nên biết rằng hết thảy mọi pháp không phải không, không phải chẳng không Hữu – Vô, vì thế nên hợp trung đạo. Những luận dẫn trên đây không phải chỉ một, vì thế Duy Thức Nhị Thập Tụng luận rằng “Không biết hết thảy chủng loại các pháp không bèn mang nhập vào pháp vô ngã, song gặp kẻ ngu, giả lập chấp tự tánh sai biệt các pháp Không như thế bèn mang tên nhập vào pháp vô ngã.

3. Tiếp giải thích các đề mục: thuyết minh năm uẩn gồm có: sắc uẩn, thọ, tưởng, hành, thức; năm sắc này hợp với căn, cảnh và pháp. Sắc là sắc thân - phương sở để nhận thức thuộc về sắc chất nên gọi sắc; thọ chẳng hạn như khổ, vui, chẳng khổ chẳng vui vẫn tiếp nhận hoàn cảnh dù trái hay thuận nên gọi là thọ, tưởng về tướng nam tướng nữ, do các thức chấp cảnh phân biệt mà có, hành là hành động do tâm nghĩ ngợi duyên các pháp đưa vào ý thức tạo thiện, bất thiện gọi là hành. Nhãn thức (cái biết của mắt), nhĩ v.v… phân biệt được cảnh nên gọi là thức. Năm yếu tố trên đều hàm nghĩa tích tụ nên gọi uẩn (chứa nhóm). Như vậy năm uẩn được phân thành ba nhóm: 1) Theo tánh giả lập (biến kế sở chấp) chấp tình có lý không 2) Tánh tùy thuộc (y tha khởi tánh) năm uẩn do nhân duyên giả hợp mà có 3) Tánh tuyệt đối (viên thành thật) : năm uẩn đích thực theo lý là có, nên Trung Biên luận rằng, uẩn có ba loại: a) Uẩn bị chấp b) Uẩn chủng loại c) Uẩn pháp tánh. Nay nói theo sách tân: Thập Bát Không luận cũng đồng lập luận như trên và nêu thêm luận chứng cũng có ba loại. a) phân biệt b) chủng loại c) như như. Nội dung năm uẩn trong ba loạïi này mỗi phần đều hàm pháp nhị không ở trong nên nói đều Không để ngộ lý Không. Hai không trước dựa vào các Không này phân thành hai để giải thích. Theo tôn chỉ Ngài Thanh  Biện có hai cách giải: 1) trong ba tánh còn lại hai trừ viên thành thật. Trung Luận thuyết rằng, do nhân duyên sanh pháp, đó là nói về Không 2) ba tánh, năm uẩn đều là không. Luận Chưởng Trân cũng thuyết rằng: “Vô vi không thật hữu, chẳng sanh giống hệt như hoa đốm nên phải lấy đây làm chuẩn, còn lại tánh tuyệt đối. Theo tôn chỉ Ngài Hộ Pháp: trong ba loại uẩn chỉ còn sở chấp để bàn về tánh không, đã dẫn các kinh luận đầy đủ như trên. Cũng có sách chép: quán chiếu năm uẩn đều không, tuy có hai cuốn, nhưng sách sau là đúng. Kiểm điểm sách tiếng Phạn có đề cập nên những gì nói sau phải cần lấy đó làm chuẩn.

Vượt qua mọi khổ ách: đây là phần hai nêu rõ sự lợi tha, tác dụng của nó có ba điểm: 1) Khổ cũng là ách (nạn) nên gọi khổ ách. Trong sáu cách giải thích đây giải là trì nghiệp (mang theo nghiệp), các pháp hữu lậu Không không chi chẳng khổ nên đức Thế Tôn dạy 3 cõi đều khổ. Song cái khổ đây tóm lược có ba loại, đó là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ mà trong đó chi li lại chia thành 8 khổ như: sanh, già, bệnh, chết, oán ghét gặp nhau khổ, yêu nhau mà phải xa nhau: khổ, cầu mong không được: khổ, năm yếu tố cấu tạo sắc thân thạnh phát: khổ… nói rộng ra trong khổ khổ còn có 25 cõi có chúng sanh và tất cả đều có sanh ra, tồn tại, biến đổi và hoại diệt qua bốn tướng hữu vi cộng chung thành 100 thứ khổ. Hai mươi lăm cõi hữu, 4 cõi người, 4 cõi ác thú, 4 không thiên, 4 cõi thiền, 1 cõi Phạm thiên, 6 trời cõi dục, trời Vô tưởng và A na hàm. Điều đáng chú ý số một là khổ ách và đó là 4 ách gồm: muốn, hữu, kiến và vô minh. Bốn ách này buộc trói chúng sanh làm cho chúng thọ vô vàn sự thống khổ như ách xe (trâu, ngựa kéo). Nếu dựa theo đây giải thích nạn của khổ nên gọi là khổ ách, do vậy trong sáu lối giải thích đây là phần chính yếu. Trong điểm một nói rằng khổ ách riêng có các mục như trên giải thích hai phần nên trong sáu cách giải thích ngược lại với giải thích.

- Xá Lợi Tử: từ đây trở đi phần thứ nhì bàn về cảnh được quán trong đó có hai phần: a) phỏng 4 câu kệ luận về tánh không và dựa theo 6 nghĩa giải thích làm rõ không tướng. Phần trước có hai điểm: a) nêu người giáo hóa b) luận về Tánh Không. Phần a người tiêu biểu việc giáo hóa: Xá Lợi Tử tiếng Phạn là Lợi Phú Đa La hoặc Xá Lợi Phất Đa La, Tàu dịch Xá Lợi là Thu Hạc; Phất Đa La có nghĩa là “tử”. Đôi mắt mẹ ông tinh anh như chim Thu Hạc, do đôi mắt nên lấy tên mẹ đặt cho con là Thu Tử. Kinh Minh Độ gọi rằng, Thứu Diên Tử hay Ưu Bà Đề Xá do từ  người cha đặt tên cho ông. Theo Cựu dịch Thân Tử là lầm lẫn vậy.

Hỏi: đây nói Bát Nhã là pháp của Bồ Tát vì sao Phật bảo Xá Lợi Tử (Phất) mà không bảo Bồ Tát ?

- Đáp: Theo Trí Độ Luận thuyết rằng, Xá Lợi Phất là người có 10,000 môn tam muội, trong số đệ tử chư Phật, Ngài là bậc trí huệ đệ nhất. Đức Thế Tôn dạy rằng, trí của tất cả chúng sanh chỉ trừ Phật, ý Thế Tôn muốn sánh trí tuệ Xá Lợi Phất với sự đa văn (nghe hiểu rộng). Trong 16 hội thuyết giáo của Phật do vậy chẳng ai sánh kịp một Xá Lợi Phất. Hơn thế nữa, Xá Lợi Phất năm mới 8 tuổi đã có cách lập luận từ lý vững chãi, siêu tuyệt không ai hơn. Lúc bấy giờ, các nhà luận sư ca ngợi là chưa từng có, kẻ hèn, người trí, lớn nhỏ thảy đều phục tài có thừa của Ngài, đó là nhân duyên như luận đã nói, vì thế ở đây Phật bảo với Xá Lợi Phất là vì muốn đưa hàng tiểu trí hướng tới Đại Thừa.

- Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc: đây mượn bốn câu trên luận về tánh không, trong đó không gồm có hai phần: a) mượn sắc uẩn bàn về bốn câu và b) bốn uẩn còn lại đều có bốn câu như thế. Trước hết mượn sắc uẩn luận bốn câu và giải thích bốn câu này: trước tiên bàn về tánh không như trên đã phân biệt, Không chia thành 2 loại: 1. Sanh không 2. Pháp không. Đáng lưu ý nhất sanh không còn có bốn loại: a) chấp ngã không cho là không, trong số không bao hàm một số các pháp, như Phẩm Bồ Tát Địa Kinh Du Già thuyết rằng “pháp hữu vi, vô vi gọi là Hữu, không có ngã và ngã sở (cái của ta) gọi là vô”. b) chấp sanh không để làm rõ chân như không, vì chỗ muốn làm sáng tỏ đó cho nên cũng nói là Không. c) khổ đế bao hàm hữu lậu có biệt Không, tức cái dụng hữu lậu là thể của năm uẩn. Thành Duy Thức luận, quyển 6 rằng, biệt Không chẳng phải Ngã thuộc Khổ đế. d) các pháp bao hàm chung là Không chẳng phải ngã, tức dụng của các pháp lấy tánh làm thể. Vì thế các kinh thuyết rằng tất cả pháp vô ngã, tuy có bốn loại y nơi ba tánh mà lý bao hàm ba không. 1) Giả lập chấp không 2) Tùy thuộc chấp không 3) Tuyệt đối không. Theo thứ tự trên lấy ba tánh làm thể của bốn pháp không. Tuy không đúng văn từ song lấy lý mà suy rõ ràng rất ứng hợp với bốn câu trên. Pháp không có ba loại như trên cần phải biết, nếu phân tích rộng có 18 không như Thập Bát Không đã luận dẫn. Y cứ Kinh Đại Bát Nhã nói có 16, 17, 18 hoặc 20 pháp không, xem kinh ấy hẳn đầy đủ hơn. Nay y ba tánh để giải thích bốn câu; trong bốn câu này: hai câu đầu: nêu rõ tông là phần chính và hai câu sau: để ngoài nghi tình: sắc chẳng khác không, cho hay tục chẳng khác chân; không chẳng khác sắc nêu rõ chân chẳng khác tục, sau đặt ngoài nghi tình như người ngoài đặt nghi vấn liên quan tới điểm y nên chẳng phải khác ư? Vì hình trạng (tướng) cho nên nói là chẳng phải khác để nêu lên thuyết này. Sắc tức là không, không tức là sắc, chẳng phải tướng nương nên gọi là chẳng phải khác; không phải tướng nên gọi là chẳng phải khác. Y cứ điểm này mà các nhà luận lý Tây phương tự phân tích hai phần: 1. theo Ngài Thanh Biện cho rằng sắc có 3 loại, đó là chỗ bị chấp, chấp không công năng và phần còn lại cho thể tánh không phải ba tánh. Nay nói sắc tức là không, bàn tánh giả lập bản lai là không nên nói đó là không; y cứ nơi sự thật của cái Không này cũng chẳng phải là không. Trung Luận cho rằng “nếu có cái chẳng phải pháp không phải ứng hợp pháp không. Quả thật Không chẳng phải pháp không làm gì có cái không pháp chứ ! Sau bàn về hai tánh không, nên lấy đây làm chuẩn, để trừ chấp Hữu nên nói pháp Không. Tánh tùy thuộc (y tha khởi) như trò huyễn, do duyên kết giống hoa đốm tự thể của nó là Không. Theo Hữu tông lại có một lối giải thích khác nữa: giữa hai tánh trước không có tánh tuyệt đối, cả hai tông đều lìa tướng Hữu - Vô và dứt hết mọi hí luận. Hỏi tướng sắc không mà trả lời một cái khác được sao ? Một thể tướng ngay đó bèn chấp một thể, còn như khác là chấp khác thể, chấp cũng một cũng khác, như nói ngược không một chẳng khác trở thành chỗ hý luận (nói đùa). Bốn câu trên phân tích kỹ có hai cách hiểu: 1. ngoại đạo và Tiểu Thừa phần nhiều y pháp biểu đạt, dùng thuyết tứ cú nói có - không bị kẹt vào hai pháp y cứ. Đại Thừa  nói có - không đều bị ngăn ngại khá rõ ràng và cho rằng hết thảy các pháp đều là bất khả thuyết (không thể nói bàn). Song tất cả mọi pháp đều có hai tướng, đó là tướng riêng và tướng chung (tự và cộng tướng). Tự tướng chỉ do trí hiện lượng đạt được không thể mượn trí nói lên chỗ đạt đó được. Nếu mượn trí nói rõ chỗ đạt có nghĩa là tướng chung rồi, chẳng hạn như nói chồi, lá xanh v.v… mà tướng chúng mỗi loại khác nhau, chỉ qua cái nhìn hiện lượng mà đạt. Do sự vay mượn trí và các danh chỉ để làm rõ màu xanh trên tướng chung mà thôi, nhưng khi hỏi màu xanh phải khuất lấp màu vàng v.v… nên chỉ nói xanh mà không thể biểu đạt đúng màu xanh, phải nói là che khuất tánh sáng tỏ, cứ chỗ che khuất sáng tỏ, đó mà phân hai thuyết: a) Tôn chỉ Ngài Thanh Biện lập luận bản chất đạo không thể lấy danh làm danh; không thể lấy tướng làm tướng, phá nhưng không chấp, giữ nhưng không đương là để dẫn dắt đúng pháp phải biết lấy như trên làm chuẩn b) Tôn chỉ ngài Hộ Pháp luận dẫn: đạo lý thế tục thắng nghĩa là thật hữu đều lìa danh ngôn; trong đó chân tánh đối với thế tục nên thuyết về chân tánh nói chẳng phải không để làm sáng tỏ. Với tôn chỉ Ngài Thanh Biện một vị Thầy đã nói cũng giống như lời giải thích đây. Do vậy Tôn Hộ Pháp phá tôn Thanh Biện luận rằng, nếu y chân tánh nói các pháp Không bèn thành tướng cực thô nên mất. Với tôn chỉ Ngài Thanh Biện giữ lại tánh tùy thuộc của tôn Ngài Hộ Pháp chẳng đề cập nên có sự sai biệt. Do điểm này mà bên trong lý đạo nói có - không v.v… thuyết minh đều che mất chỗ sáng tỏ, xa rời một cái khác thành hý luận. Dựa tôn chỉ Ngài Thanh Biện giải thích câu văn đã đầy đủ. 2. Y tôn chỉ Ngài Hộ Pháp giải thích về tứ cú: sắc có ba đó là ba tánh, sắc không cũng phân thành ba thể tức là ba tánh như vậy. Trong Biện Trung Biên luận, Bồ Tát Vô Trước nói rằng: không có ba loại: 1. vô tánh không, tánh chẳng có 2. dị tánh không, cùng với vọng chấp tự tánh khác. 3. Tự tánh không. Hai Không đã hiển lộ là tự tánh, nương tánh giả lập: sắc đối không thành ra trong tứ cú có ba loại: 1. Đem chỗ chấp sắc đối với giả lập không bàn về tứ cú. Tùy theo tình chấp giữa căn, cảnh mà sắc chẳng khác chỗ chấp Không của bản tánh Không. Vì thế nên cho sắc tức là Không, cái Không của bản chất không, theo tình liền có nên nói không tức là sắc. Đây xem tánh tướng đồng tức là 2 câu tiêu biểu trên làm chuẩn cần nên biết.

2. Chỗ chấp sắc đối với tánh tùy thuộc Không để bàn về tứ cú. Phụ theo tánh tùy thuộc thật sắc chẳng khác tùy thuộc không thật Không. Vì thế mới nghĩ rằng sắc tức là Không, nhưng đó là vọng tình đối với sự chấp không ấy, chấp thật có sắc nên nói Không tức là sắc, ở đây tiêu biểu lấy hai câu làm chuẩn cần phải biết, và khác với tánh tướng.

3. Chỗ chấp sắc đối với tánh tuyệt đối Không để bàn về tứ cú. Đối với tánh tuyệt đối chấp thật sắc không khác Không của chính nó; đối với tự tánh không chấp là thật sắc nên nói sắc tức là không, không tức là sắc lấy tiêu biểu hai câu làm chuẩn nên biết. Như tánh tùy thuộc khác tướng thể là tùy thuộc khởi động sắc đối với dị tánh không hữu của tứ cú. Có nghĩa là duyên sanh, sắc không khác tánh y tha tức là Không của dị tánh. Song tánh không này là chất ngại nên cho rằng sắc tức là Không, không tức là sắc. Đây xem tánh tướng như nhau như hai câu kinh nêu làm chuẩn cần phải biết. Lại còn giải thích tánh tùy thuộc duyên sanh sắc đối với hai tánh có - không của hai trong tứ cú. Đối với dị tánh không khác cách đã giải thích trên, đối với tự tánh Không cũng nằm trong tứ cú, nghĩa là duyên sanh sắc lấy dụng Như làm thể. Song cái Không Tánh kia chẳng khác tánh tùy thuộc, nên Thành Duy Thức luận nói rằng: “Vì thế, tánh đây cùng tánh tùy thuộc không khác không phải chẳng khác, như vô thường các tánh” Lại Trung Biên Luận cho rằng “trong đó duy chỉ Không đối với cái kia nên mới có cái này”. Do đây mà tánh tùy thuộc, và tánh tuyệt đối hổ tương không lìa nhau, vì thế nên nói sắc tức là không, không tức là sắc. Không phải duyên sanh Không nên nói tuớng chẳng phải vậy, thành trái mất tôn chỉ. Đây là tướng dị tánh tiêu biểu hai câu làm chuẩn cần phải biết. Tánh tuyệt đối đối với tánh Không – Hữu trong tứ cú, nghĩa là tánh tuyệt đối là tùy thuộc sắc, vì thật tánh nên gọi là sắc. Ngã, pháp hiển lộ của hai Không nên tánh tuyệt đối Không. Do lý này nên nói rằng sắc tức là không, không tức là sắc. Đây xem tánh tướng đồng như hai câu kinh nêu làm chuẩn cần phải biết.

- Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế: đây là cách giải thích thứ nhì bốn uẩn này đều có nơi bốn câu, mà tứ cú nêu làm chuẩn như trên cần phải biết. Ngoài ra phải hiểu kinh Bát Nhã có hai bổn: một bản như đã giải trên, còn một bản giải rằng: “thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế” Dùng từ vân vân vì cứ theo kinh văn bên dưới có sáu phương cách thiện xảo như uẩn, xứ, giới, duyên bốn đế, Bồ Đề, Niết Bàn. Ở đây đưa ra bốn uẩn… ngoài ra năm pháp khác đều có nơi tứ cú nên nói vân vân là vậy. Sáu phương cách này nghĩa riêng biệt, phần sau đây hẳn phân biệt kỹ hơn.

- Này Xá Lợi Tử các pháp không tướng, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng, không giảm: từ đây trở đi phần hai dựa theo sáu nghĩa để làm rõ không tướng. Điểm này có hai ý: trước phỏng theo sáu nghĩa để làm lộ không tướng và sau nương vào không tướng để bày sáu môn thiện xảo. Hiển bày sáu tướng đây là cốt lõi ngài Xá Lợi Tử như trên đã giải thích. Sáu tướng đó là: không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Song sáu tướng này theo Tây phương có hai cách giải thích: a) giải theo Ngài Thanh Biện b) giải theo Ngài Hộ Pháp. Theo tôn chỉ Ngài Thanh Biện giải thích tướng vốn là Không. Hiện có tên gọi là sanh, tạm có rồi hoàn không là diệt. Luận Du Già thuyết rằng tánh nhiễm bất  tịnh gọi là cấu nhiễm, không dơ gọi là sạch như các kinh Phật thuyết. Chấp pháp có Dụng gọi là tăng, theo pháp tan hoại gọi là giảm, như Nhiếp Đại Thừa luận về ba phần này đối với sáu tướng, có ba cách nói khác nhau: câu này bàn rộng có ba ý, nghĩa là tánh chân không lìa các tướng nên trước khi tu tập phải xa lìa cái sanh diệt lăn xăn, trong khi hành đạo trí không lầm lạc dơ sạch và sau khi hiểu đạo hoàn toàn xả hết mọi thể - dụng, tăng - giảm. 1. Câu trên phỏng theo tánh để luận có ba: a) tánh giả lập (biến kế sở chấp), bản lai vốn không nên chẳng sanh chẳng diệt, b) tánh tùy thuộc (y tha khởi) theo duyên sanh nên không dơ không sạch, c) tánh tuyệt đối (viên thành thật) vì bất động nên không tăng, không giảm. Nêu điểm một này để đối với ba tánh, sáu tướng, mỗi tướng đều thông các vị, các tánh nói chung trong ba tánh ngoài ra không gì khác. Trong ba tánh này về sau hơn hết, hợp bổn tông nên theo tôn chỉ ngài Hộ Pháp là lý chân thật không tướng có nhiều nghĩa không phải một nào khác Hữu - Vô v.v… như kinh thuyết ba tánh đối sáu tướng sanh diệt, tức là tướng chung hữu vi dừng ở dơ sạch; bàn về tự tánh các pháp: tăng, giảm nêu để hiển bày pháp nghĩa dụng thật lý. Ba tánh Không thông với sáu tướng Hữu mà ý kinh nêu làm hiển lộ tự tánh không: sanh - pháp nhị không làm hiển chân lý chung cùng với mê ngộ làm chỗ sở y.

- Vì thế trong không không có sắc, không thọ, tưởng, hành, thức: từ đây trở đi y phần hai không tướng còn lại sáu pháp nghĩa. Sáu pháp lưu lại này phân làm sáu, đây là lưu lại thứ nhất  pháp năm uẩn, nghĩa là các pháp Không đầy đủ cả  nơi sáu tướng. Vì thế trong không không có năm uẩn với nghĩa riêng như trước đã giải thích. Ở đây đề cập sáu tướng hiển tỏ chung hai cảnh thông biệt của nhị thừa. Trước dừng ở ba môn hiển tỏ pháp tánh, nên nói ba thừa có chung cảnh. Y pháp tánh trên tùy căn cơ nói riêng pháp duyên sanh; do vậy ba môn sau gọi là biệt cảnh. Kinh Pháp Hoa thuyết rằng vì hàng Thanh Văn Phật nói pháp tứ đế, vì Duyên Giác nói pháp duyên sanh, vì chúng Bồ Tát nói pháp Lục Độ.

- Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp: câu này lặp lại phần hai của 12 xứ, nên ở đây tưởng cần phải giải nghĩa 12 xứ, phân thành ba môn: a) Chỉ rõ ra hai lời giải thích danh từ về ba thể tánh. Nói nêu rõ lời dạy trong đó hàm chứa đủ hai ý nên gọi là ngộ nhập hai pháp: sanh không, pháp không. Ngộ pháp sanh không, như Duy Thức Nhị Thập Tụng luận rằng “y đây nói 12 xứ trong sự giáo hóa, nếu hiểu rõ do hai pháp sáu (sáu căn, sáu cảnh) mà có sáu thức chuyển biến đều không thấy cho chí không biết mới có thể hiểu rõ chúng sanh vô ngã. Nhập pháp Không như đây lặp lại 12 xứ làm sáng tỏ lý Không mà giữa các ngài Thanh Biện, Hộ Pháp lưu lại pháp khác biệt như trên cần phải suy ngẫm. b) Tiếp đây giải thích danh từ 12 xứ, trước là chung và sau giải riêng. Trước hết giải thích chung 12 xứ. Thập nhị là nêu lên con số 12, xứ nghĩa là sanh trưởng, tức sáu căn, cảnh sanh trưởng hết thảy các tâm vương (8 tâm) và tâm sở(2) nên gọi là xứ. Trong sáu cách này dùng con số để giải thích. Sau giải riêng danh từ như trong luận Du Già, quyển ba cho rằng: “Lại nữa, thường quán các sắc: quán nhưng lại xả nên gọi là nhãn (mắt). Một số tiếng đưa đến có thể nghe là nhỉ (tai), một số do tai nghe hay ngửi các mùi là tỷ (mũi), hay trừ đói khát, nói năng lý luận biểu lộ qua sự mời gọi là thiệt (lưỡi), đáp ứng thỏa đáng nhu cầu các căn đòi hỏi tích chứa là thân. Người ngu trong đêm tối lấy ngọc trang sức thân tự cho là mình và nghĩ đó là ta và cái của ta. Nhưng người thế gian cũng theo đó mượn tạo  ra đủ thứ là tưởng. Vì chúng sanh có thân mạng sanh ra, cần mưu sinh và các nhu cầu tự nhiên khác là ý. Con số có thể bày trước mắt nên mới bị chướng gia tăng ngăn che là sắc; một số thích nghi một số dừng lại do nhiều sự dị nghị là tiếng. Lìa chất ẩn hình hay theo gió thoảng mang đi gọi là hương, lưỡi thưởng thức thường kéo theo sự cay, đắng, mặn, lạt là mùi. Mọi sự tiếp cận có thể làm thân cảm giác gọi là xúc, hay biến thái mà vẫn duy trì do ý phân biệt nhận biết là pháp.

c) Hiển lộ ngoài thể: nhãn căn tức căn mắt như các luận trình bày: bốn đại vốn tạo nhãn thức làm chỗ sở y lấy tịnh sắc làm thể. Như nhãn căn cho chí nhĩ căn nương bốn đại tạo ra cái biết của tai (nhĩ thức) làm chỗ sở y lấy tịnh sắc làm thể; ý căn chung lấy 8 thức làm thể. Còn phần sắc như luận dẫn, bốn đại tạo nhãn căn rồi bám lấy 25 hình sắc chấp đó cho là tự tánh. 25 hình sắc gồm có: xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tròn, thô, tế, cao, thấp, ngang, xiên, quang phổ(3), sáng, tối, mây, khói, bụi, sương, cực lược sắc (các sắc pháp có thực chất bị phân tích đến chỗ quá nhỏ như vi trần), biến sắc (sắc nêu ra được), hồi biểu sắc, sắc hư không. Thanh có 12 loại: tiếng (tên chung chỉ các thứ tiếng kêu thuộc bối cảnh bị nghe của nhĩ thức), tiếng vừa ý, tiếng không vừa ý, tiếng bình thường, tiếng nói của loài hữu tình, tiếng kêu của loài vô tình, tiếng chung loài hữu-vô tình, tiếng nói thuộc thế tục (giả lập), tiếng Phật nói, tiếng ngoại đạo nói, tiếng của các thánh ngôn, tiếng vang. Hương có 6 loại: mùi thơm, mùi hôi, mùi không thơm không hôi, mùi từ bản chất sanh, mùi do chế tạo thành, mùi do sự biến đổi sanh. Vị có 12 như: đắng, chua, cay, ngọt, mặn, lạt, vị vừa ý, vị không vừa ý, vị bình thường, vị từ bản chất sanh, vị hòa hợp do chế tạo, vị do biến đổi. Xúc có 26 loại: đất, nước, gió, lửa, trơn, nhám, nhẹ, nặng, mềm, hưỡn, gấp, lạnh, đói, khát, dơ, no, , sức lực, bại, rầu, ghẻ ngứa, mệt, thở, mạnh, bịnh, già, chết. Năm trần này quá rộng và thật vô cùng phức tạp như các nhà luận thuyết nêu lên chỗ đồng chỗ dị đề cập ở một chương riêng. Xứ là chỗ Dụng của 100 pháp mà 82 pháp lấy đó làm tự tánh có nghĩa sắc là một trong 51 món tâm sở. Gọi là pháp xứ, vì sắc bất tương ưng có 24 món, vô vi có 6 y như các luận thuyết. Lấy 88 pháp làm tự tánh tức là bốn pháp xứ sắc và 2 pháp vô vi có đầy đủ như đã nói, ngoài ra phần phân tích rộng như trong chương riêng.

- Không nhãn giới cho chí không ý thức giới: đây là phần ba đề cập 18 giới, trong đây được chia thành ba môn: 1) làm hiển tỏ lời Phật dạy 2) Giải thích danh từ  3) nêu lên thể tánh.

1. Làm rõ lời dạy nghĩa là chấp sắc, tâm cho là Ngã và phần hạ căn, vì thế Phật nói 18 giới. 2. Giải thích danh từ: trước giải thích chung, sau giải thích riêng. Nói chung 18 giới, 18 là con số, giới là chủng loại và tánh chất riêng. Hết thảy các pháp là 18 chủng loại và tánh sai biệt của chúng. Vì vậy đại diện con số tiêu biểu trên làm chuẩn cần phải biết. Kế đến nói tính chất riêng gồm có: sáu căn, sáu trần như trong phần xứ đã đề cập, và sáu thức tên gọi riêng biệt có hai nghĩa: theo cảnh gọi sắc thức hay thậm chí còn gọi pháp thức, vì tùy cảnh gọi tên thuận nghĩa để biết; theo căn gọi là nhãn thức cho chí ý thức tùy căn đặt tên đủ năm căn phát khởi. Đây là thức của sắc cho nên gọi là sắc thức, nhẫn đến thức của ý gọi là ý thức. Vì vậy trong sáu giải thích y cách chính. Nếu phân tích đầy đủ như Thành Duy Thức, quyển 5 thuyết rằng, sau xác định rõ thể, mắt v.v… như đã trình bày về 12 xứ. Mắt, tai v.v…. sáu thức trong 100 pháp như tự chính nó; mắt, tai v.v… sáu thức lấy làm tự tánh; xem các phần khác rộng như đã luận giải.

- Không vô minh cũng không hết vô minh cho chí không già chết cũng không hết già chết. Đây là phần bốn giải thích pháp duyên sanh, song duyên sanh này tự cũng có hai loại: 1. Lưu chuyển 2. Hoàn diệt. Do vô minh phát khởi các hành cho chí do sanh làm duyên cho lão tử; do vậy trôi lăn trong năm đường bốn loài chúng sanh như vành trăng tròn không thể tự biết. Đối với không tánh không có sự lưu chuyển này nên Kinh thuyết rằng không vô minh cho chí không già chết. Do lực quán sát làm cho vô minh diệt, vì vô minh diệt nên các hành cũng diệt, như thế cho chí do sanh diệt nên lão tử cũng diệt. Trước ví nó như bánh xe quay trở lại Niết Bàn nên gọi là hoàn diệt. Nơi tánh không không có hoàn diệt nên Kinh cũng nói: “Không hết vô minh cho chí cũng không hết già chết”. Tại sao kinh này nêu pháp duyên khởi giống kinh Pháp Hoa ? Vì cầu quả Duyên Giác nên nói pháp duyên sanh, nhưng duyên nói đây là để làm rõ pháp Không nên mới có. Song pháp duyên sanh đây không giống như thông thường giải thích. Nay giải lược có ba điểm cần phân biệt: giải danh từ, nêu rõ thể tánh và sự phế lập. Giải danh từ trước giải thích chung và sau giải riêng. Giải chung gọi 12 là để nêu lên tổng quát con số như kinh Duyên Khởi. Thế nên các phần mỗi mỗi do duyên hòa hợp không thiếu tương tục sanh nên gọi là duyên khởi. Theo Luận Du Già, nhân danh quả Duyên Giác là duyên sanh, trong đó nêu lên số làm rõ tôn chỉ nên trong sáu lối giải thay số để giải. Sau đề xuất biệt danh trong ba thời kỳ, người ngu đối cảnh không phân biệt được gọi là vô minh, kẻ phước ba nghiệp tạo tác trôi chảy gọi là hành. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da tám thức phân biệt rõ cảnh giới là thức. Các tướng sắc v.v… chiêu cảm thành sắc chất gọi là danh sắc, 6 căn, mắt, tai… sanh trưởng và tim v.v… là sáu xứ (lục nhập), biết khổ, vui, không khổ, không vui đối cảnh trước mắt là xúc. Ba cảm thọ dù thích ứng hay không thích ứng gọi là thọ, do tự cảm nhận đắm nhiễm mọi ảnh sắc là ái, ham muốn chấp chặt bốn món chấp hoặc vin lấy cảnh là thủ; các hành, thức hay chiêu cảm sanh khởi gọi là hữu. Thức v.v… năm căn vốn không nay bỗng có gọi là sanh, năm căn suy hao biến đổi, hoại diệt là chết. Thứ nhì hiển lộ thể có 3 nghĩa. 1. Dẫn khởi sanh ra sai biệt 2. Phát hiện đúng tự tánh 3. Hiện loại phân biệt.

1) Dẫn khởi sanh ra sai biệt: do vô minh, hành là công năng dẫn dắt có thể dẫn thức đi thọ sanh trong năm đường. Thức v.v… năm thứ vì bị lôi dẫn bởi vô minh, hành ở trước đưa lối cho ái, thủ, hữu, ba tên là sanh, đương sanh và sẽ sanh chính là sanh, lão, tử. Sanh và già chết tức là bị sanh, vì ái, thủ, hữu mà phải sanh

2) Phát hiện đúng tự tánh: có nghĩa là hay phát lộ đúng việc cảm thọ ba phước nghiệp là chi vô minh mà chính chỗ bị phát hiện đó là hành thân hiện tại và thân sau. Hạt giống thức thứ tám (A lại da) là thức chi thể, trừ ba nhân sau; ngoài ra các nhân đều là chi thể của sắc như theo thứ tự 3 nhân sau. Ba loại sau có danh rõ ràng là sắc, tức hàm chung năm thức lấy đó làm tự tánh mà trong đó theo hơn lập thành bốn loại khác, nghĩa là thức A lại da chính là chi thức thành hình ngoài ba thức. Nói 6 xứ (lục nhập) vì hay lưu nhuận nơi sáu món chủng tử: tham dục là ái, ái duyên ái lại sanh ham muốn v.v… bốn chấp thủ là chấp thân. Nhưng bốn chấp thủ đây theo luận Du Già quyển 10 thuyết rằng theo thứ tự nơi các cảnh dục và bốn chấp thủ khác; đối việc chấp giữ giới tà và tà kiến mà khởi tham dục là chấp thủ thân. Các kinh luận nói về duyên khởi có chỗ đồng chỗ dị như đã thấy hành và thức nơi sáu loại chủng tử bị đưa đẩy về sau chuyển thành hữu. Thức v.v.. thuộc năm thức sanh quả, từ đó mới đưa đến thật hữu chưa giảm, biến đổi gọi là sanh, cho tới khi suy hao, biến hoại nói chung là lão, thân thể tan hoại mạng chấm dứt gọi là tử.

 3) Hiện loại phân biệt có 2 nghĩa: a) y cứ sự thật đúng lý b) tướng từ giả thuyết thành. Tướng từ giả thuyết nhứt nhứt đều thông chủng tử và hiện hành. Thập Địa luận cho rằng vô minh có hai phần: a) chi tử b) chi quả cho đến lão tử nên biết cũng như vậy, cứ sự thật đúng lý sanh - lão - tử, duy hiện không phải chủng tử. Thức v.v… sáu chi chỉ loại không hiện vô minh cùng hành và chi ái, thủ đều chung chủng tử hiện hành.

3) Phần phế lập trong đó có ba nghĩa: 1. Phỏng định sự phế lập: như Thành Duy Thức Luận quyển 8 nêu hỏi rằng: tại sao vị lão không lập chi riêng ? Đáp: vì không cố định hữu nên gá theo tử lập chi.

Hỏi: Bịnh sao không lập chi? Đáp: không nhất định nương theo. Lão bất định biến nên lập chi, trừ phi sanh nơi các cõi thú như yêu ma có chung kết đều suy hoại là hành.

Hỏi: danh sắc bất biến cớ chi lập chi?

- Đáp: Vì định nên lập chi. Thai sanh, loài đẻ trứng, loài sanh nơi ẩm thấp, loài hóa sanh và sáu xứ (lục nhập) chưa đủ định vị nên mang danh sắc. Lại chi danh sắc cũng biến khắp hữu sắc thể. Loài hóa sanh lúc mới thọ sanh tuy cũng đầy đủ năm căn nhưng chưa có Dụng, lúc đó chưa gọi là lục nhập vì lúc mới sanh vô sắc, dù có ý căn nhưng không rõ ràng nên chưa gọi là ý xứ được.

Hỏi: Ái không biến trong hữu thà lập chi riêng sanh nơi cõi ác hơn chẳng ái chứ?

- Đáp: Vì định vị nên lập riêng chẳng cầu không hay có sanh cõi thiện nên nhất định có ái là vậy.

Hỏi: Nếu vậy chẳng lại thích hợp với không có ái chứ?

- Đáp: Tuy không khởi ngay bây giờ, nhưng như chỗ chấp kia để định chủng loại. Lại ái biến sanh nơi ác thú, hiện cảnh đây cũng có ái vậy, theo chỗ không mong cầu ái sanh vào ác thú. Kinh ghi rằng không có chẳng phải nó toàn không.

2. Mở hiệp phân biệt các chi có 2 phần: a) dẫn sự thọ sanh tương đối để bàn về mở hiệp b) lưu lộ tương đối để bàn về mở hiệp. Dẫn đi thọ sanh tương đối như luận đã trình bày, vậy do duyên nào sanh mà lập sanh, lão tử ? Chỗ dẫn thọ sanh riêng lập thức v.v… năm chi do vì khéo nhận biết tướng sai biệt nên y quả đương thọ mà lập năm chi riêng đầy đủ như luận đã thuyết. Quả vị dễ nhận ra tướng sai biệt nên lập chung hai chi để chỉ rõ ba khổ như đã dẫn phát khởi riêng nhuần khắp, như luận ấy dẫn. Duyên nào phát động lập chung vô minh thấm nghiệp riêng trong yêu chấp. Tuy các phiền não đều có thể lưu nhuận, nhưng lực vô minh mạnh hơn đủ sức như vậy mà phát tác nghiệp. Lực vô minh tăng do 11 việc gia tăng nên cũng gọi là chỗ bị duyên rất rộng như kinh dẫn. Đối với nghiệp lưu chuyển lực ái càng tăng hơn như nước có thể thấm nhuần nên cần phải tưới tẩm mới nảy mầm hay sanh chồi được. Hơn nữa, nương theo trước sau phân ái chấp thành hai không trùng phát khởi một vô minh, ba giới hạn quốc độ để luận chỗ đồng chỗ dị có hai: 1) giới hạn cõi quốc độ 2) giới hạn đời luận chỗ giống chỗ khác nhau. Đất (cõi) dung chứa muôn vật có đồng dị như luận đã nói, các pháp duyên khởi đều nương theo tự, tha làm nơi phát khởi. Y theo tha vô minh như vô minh hạ phát khởi nơi địa thượng không như ban đầu tiềm ẩn nhiễm chấp ở địa hạ, nơi phát khởi nói trên quyết định phải là không thuộc chi nào, vì đất vô minh ấy do chưa khởi phát. Giới hạn đời bàn chỗ giống chỗ khác nhau như luận đã nêu rõ. Mười hai nhân duyên này trong đó 10 thuộc nhân và 2 thuộc về quả hẳn không cùng đời. Trong bảy nhân trước cùng với ái, thủ, hữu có thể khác và có thể giống, như các duyên 2, 3 và 7 hẳn cùng đời. Mười hai nhân duyên này là vòng nhân quả kép đủ để xoay vòng và làm dứt đoạn, thường (kiến) giả định hai vòng nhân quả hoặc là vô dụng hoặc phải trãi qua đó mới đến điểm vô cùng. Lời giải luận rằng y trước trải ra một vòng nhân quả để phá phái Tát Bà Đa cho rằng có 2 vòng nhân quả, cần tìm để biết rộng như các luận đã thuyết minh.

- Không khổ, tập, diệt, đạo: phần 5 này bàn về pháp tứ đế. Ở đây tứ đế phải thuyết minh thế nào? Như kinh Pháp Hoa thuyết rằng, vì cầu quả Thanh Văn nên Phật nói pháp Tứ đế. Trong kinh này vì muốn hiển pháp Không mà nói pháp tứ đế, song tứ đế đây tưởng cần phân thành ba mục: 1. giải thích danh từ, 2. nêu thể tánh 3. loại số khác nhau.

1. Giải thích danh từ: trước giải thích chung sau là riêng, gọi tên chung bốn là nêu con số, đế có hai nghĩa như Luận Du Già nêu: a) như đã nói nghĩa tương ứng hay không tương ứng b) do nghĩa lìa này đưa tới chỗ rốt ráo của ý, xứ là thay số giải thích làm chuẩn như trước nên biết. Nói riêng là đế không chung, bốn thứ không đồng như: 1. Khổ 2. Tập 3. Diệt 4. Đạo. Ba khổ tạo thành nên gọi là khổ, hay chiêu lấy hậu quả nên gọi là tập, hết tập khổ gọi là diệt, hay trừ hay thông gọi là đạo.

2. Nêu thể tánh: khổ đế là phiền não của năm uẩn hay chiêu cảm nghiệp mê lầm lấy làm tập đế, trạch diệt vô vi là thể của diệt đế. Đạo đế tức là thánh đạo vô lậu giải thoát. 3. Loại số khác nhau: hoặc số 2 hay 3, như lấy số 2 gồm: 1.thế tục 2. thắng nghĩa. Nơi mỗi đế đều có đủ bốn đế như đã nêu rõ, nhưng sợ rườm rà nên không nêu hết. Theo như Kinh Thắng Man cũng có hai phần: 1. Hữu tác 2. Vô tác (không tạo tác). Do phiền não chướng và chỗ tạo nghiệp cảm nên phần đoạn sanh; chỗ cảm quả ấy gọi là khổ đế, hay chiêu cảm nghiệp mê lầm nên gọi là tập đế. Khổ tập ấy hết gọi là diệt đế, quán sanh không là đạo đế. Nghiệp vô lậu nhân vô minh làm duyên chiêu cảm nên biến dị sanh. Bị chiêu cảm thức dị thục lấy làm khổ đế hay chiêu cảm nghiệp mê lầm gọi là tập đế. Cái khổ dứt sạch gọi là diệt đế, trí quán pháp không là đạo đế.

Hỏi: Đâu có thể không phải pháp chấp là không phát khởi nghiệp và không thọ sanh; thánh đạo giải thoát không có khổ tập tại sao kinh nói vô lậu là nhân, vô minh là duyên?

- Đáp: Theo Thành Duy Thức luận quyển 8 thuyết minh: đoạn pháp chấp và các duyên trợ lực nên nói vô lậu là nhân, vô minh là duyên. Đúng ra nghiệp phần đoạn nói trên và chỗ cảm quả lực nương nhờ nên càng thắng càng diệu lấy đó làm biến dịch rộng như luận đã giải. Như nói số 3, hai loại tứ đế đều có đủ ba tánh, có nghĩa là sở chấp như Trung Biên luận và Thành Duy Thức luận quyển 8 đề cập, bàn rộng tướng tìm cầu đó là biết hết nhưng sợ phiền không thuật đủ.

- Không trí cũng không đắc: đây là phần 6: pháp trí đoạn. Phải nói như thế nào trí đoạn đây với Kinh Pháp Hoa, Phật vì chư Bồ Tát nói pháp lục độ. Ơû đây Kinh này vì hiển pháp Không nói trí đoạn, song trí đoạn cũng có hai cách giải thích: a) do nhân gọi là trí tức là bát nhã, quả vị gọi là đạt bồ đề b) cách khác cho rằng Bồ Đề là trí, Niết Bàn là đạt quả, tuy có hai nghĩa nhưng nghĩa sau hơn cả. Các bộ kinh Bát Nhã đều nêu Bồ Đề và Niết Bàn nên sau đây cần phân biệt.

- Vì không có sở đắc (chỗ đạt được) mà Bồ Tát nương Bát Nhã Ba La Mật Đa nên tâm không ngăn ngại: từ đây trở đi 3 phần, làm rõ quả đạt được, trong đó có hai: trước nói rõ việc đắc quả và sau dẫn nêu thí dụ. Phần đầu có hai ý: luận về sự quán hữu và sau hiển bày chỗ đắc quả. Nói về quán hữu trong đó có phân ra ba: vì không có sở đắc nên bàn pháp không ly tướng, thật ra là pháp tánh không lìa sáu độ, sau làm hiển lộ phần trước chỉ nói  không đạt được. Kế Bồ Tát là người tu quán mà phát ý sáng như trên đã nói. Bồ Đề  gọi là giác hữu tình tức là giáo hóa chúng sanh, trên cầu Bồ Đề dưới hóa độ chúng sanh bằng trí bi này nên gọi là Bồ Tát. Sau nương Bát Nhã Ba La Mật Đa nên tâm không ngăn ngại. Bàn về quán hữu, dịch ý nghĩa như đã giải thích, nên biết Bát Nhã gọi là biệt cảnh trong huệ tâm sở nói đây tức là làm hiển lộ huệ đầy đủ trong tâm. Tâm có hai loại:  chỗ gọi là tánh tướng chướng ngại tức là trí lầm hai chướng. Ý nói chung có thể giải thích là chân tánh của lý không. Lìa sáu tướng nên Bồ Tát phát tâm nương theo pháp quán chiếu ấy làm cho huệ đầy đủ nơi tâm để đoạn chướng, chứng pháp Không không phải chấp hữu dị sanh nơi nhị thừa đoạn hai chướng và ngộ hai Không.

- Không ngăn ngại nên không có khủng bố xa lìa hết thảy những mộng tưởng điên đảo đạt đến Niết Bàn rốt ráo: đây là điểm thứ hai làm rõ quả chứng đạt. Như cũng có sách nói: xa lìa hết mọi điên đảo vọng tưởng. Tuy có hai cuốn nói như thế nhưng cuốn sau là hơn cả. Nhưng chứng quả có bốn loại: 1) không ngăn ngại nên không có khủng bố và xa lìa mọi sự sợ hãi. Sợ hãi gồm có năm thứ. Phật Địa Luận quyển nhì đề cập đến 5 thứ sợ hãi đó là: 1. sợ đời sống 2. sợ ô danh 3, sợ chết 4. sợ cõi ác 5. sợ số đông. Với năm thứ sợ ấy mà trong lúc tu tập địa tiền đều được xa lìa hẳn, ý được an lạc thanh tịnh.

2) Xa lìa điên đảo tức là xa lìa quả điên đảo của ba điên đảo như: vô thường, khổ, vô ngã hay bốn đảo như cho rằng: thường, không khổ, có không, ngã hoặc 7 điên đảo như: gồm chung hai quan niệm trên hay 8 đảo gồm: vô thường cho là thường, bất tịnh cho là tịnh, vô lạc cho là lạc, vô ngã cho là ngã.

3) Tưởng chấp và nghĩ cho tâm là đúng.

4) Vì nghĩ vô thường là thường, khổ là vui, bất tịnh là tịnh, vô ngã là ngã. Bảy điên đảo không khác bốn điên đảo trên, tám đảo gồm bốn đảo trước cộng thêm bốn lý chân khi đạt đến Phật quả là thường – lạc – ngã – tịnh, chấp là vô thường, vô lạc, vô ngã, bất tịnh hiểu ngược lại lạc là khổ.

3. Xa lìa mộng tưởng là xa lìa tất cả mộng tưởng tức là 8 thứ vọng tưởng. Tưởng như trong giấc mơ nên gọi là mộng tưởng. Kinh Du Già gọi đó là 8 loại phân biệt, do chúng sanh không hiểu rõ tánh không chân như, nhân đó nên có ba vấn đề a) tưởng cảnh b) chấp ngã c) tham - sân - si. Do tham, sân si nên mới tạo nghiệp sanh ra chúng sanh và cõi quốc độ - cõi nước. Do đó mà triền miên luân hồi trong sanh tử. Tầm, tư v.v… là 2 tâm sở dùng quán không đoạn dứt nghiệp mê lầm chứng đạt đại Bồ Đề. Ở đây sơ lược trình bày phân biệt 8 tâm như Du Già Luận quyển 36 cho rằng, lại những kẻ ngu xem hiển lộ chân như như thế không hiểu nên từ nhân duyên này mà có 8 pháp phân biệt hay chuyển qua ba vấn đề phát sanh, loài hữu tình thế gian và cảnh giới sinh tồn. Tám loại phân biệt là những thứ gì?

1. Tự tánh: đối với các pháp phân biệt tánh riêng như sắc, thanh v.v…

2. Sai biệt: nghĩa là với sự phân biệt kia có thể thấy hoặc không thấy được.

3. Chấp chung: tức là sắc, thanh v.v… nói trên mà chúng sanh vin nơi đó chấp cho rằng: ta, nhà ta, quân ta, rừng ta….

4. Phân biệt Ngã (chấp chặt lấy cái ta hay ôm giữ lấy tự ngã).

5. Chấp cái của Ta chia thành 2 món phân biệt: nơi pháp hữu lậu chấp thủ nói trên, tức kể là Ta hay nhận rằng cái của Ta.

6. Phân biệt đối xử trong sự yêu thương

7. không yêu thương

8. Hết thảy đều tương phản nhau.

Theo thứ tự như trên cho dù hay đẹp hay chẳng hay đẹp nên cần phải xa lìa chỗ chấp có phân biệt.

Tam Tạng thánh điển giải thích rằng tám loại phân biệt đều  lấy vô ký, dị thục (4) phát huệ lấy đó làm tự tánh, hoặc lấy tầm, tư làm tự tánh mà có thêm ba vấn đề: trước ba sự phân biệt có thể sanh chỗ hý luận bị chi phối của sáu căn và sáu cảnh. Kế phân biệt hay sanh chấp ngã và lấy đó làm tự ngã và sau theo ba món: tham, sân, si. Nên biết trong đây chỗ bị duyên lấy đó làm chỗ nương nên sanh ngã kiến; chấp ta là chỗ nương sanh ra tham sân si. Do ba chấp trên nên có chúng sanh và cõi đời xoay vần đắp đổi. Bốn tầm, tư v.v… quán xét đầy đủ như các luận đã rõ. Ý kinh nói rằng, vì trí tuệ nên trong chứng pháp Không xa lìa mọi điên đảo, 8 loại vọng tưởng. Niết Bàn rốt ráo là đạt quả Niết Bàn hoàn toàn. Niết Bàn nếu phân tích thành bốn môn: 1) giải danh từ 2) thể tánh 3) chủng loại 4) phần hỏi đáp.

1. Giải danh từ: cựu dịch theo âm tiếng Phạn là Niết Bàn hay Nê Hoàn, dịch nghĩa là Tịch Diệt. Ngài Huyền Trang dịch là Ba Lợi Nặc phược nẩm, tiếng Hoa gọi là Viên tịch. Rốt ráo xa lìa các chướng nạn của sanh tử nhiễu động gọi là viên tịch, nghĩa vẫn giữ theo cựu dịch là Niết Bàn.

2. Thể tánh Niết Bàn: có nhiều thuyết bất đồng như phái Tát Bà Đa chọn hữu dư, vô dư đều chọn chữ diệt lấy vô vi làm thể có thật tự tánh. Theo phái Kinh Lượng Bộ: phiền não diệt là hữu dư y, quả khổ dứt sạch là vô dư y. Giả không phải thật tự thể có hai nghĩa: diệt đế là thể trừ dứt nghiệp mê lầm bao hàm diệt đế, mặt khác lấy đạo đế làm tánh nơi đạo tạo mê lầm phải trừ diệt. Ở đây dựa các thuyết Đại Thừa có sự bất đồng như phái Đàm Vô Sấm cho rằng: bốn đức là rừng thăm thẳm lấy đó làm gốc. Như Ngài Chân Đế Tam Tạng nói: trong Đại Thừa có 4 loại Niết Bàn.

3. Chủng loại: đạo quả bản lai vốn thanh tịnh không bao hàm đạo quả. Lại nói Bát Nhã và lấy tâm đại bi vô trụ làm tự tánh Niết Bàn, như các luận giải rất nhiều không thể thuật hết. Ở đây theo Tam Tạng Thánh Điển có 4 loại Niết Bàn dùng Như làm thể. Thành Duy Thức luận quyển 10 cho rằng, bốn loại Niết Bàn đều nương chân như dứt trừ các chướng mà kiến lập. Nhưng nói Niết Bàn là pháp thân, bát nhã, giải thoát là ba việc; thành Niết Bàn là nêu lên cái có thể thành trí tuêï giữ chỗ thành lìa chướng chứng Chân Như không phải năng thành trí là tự tánh Niết Bàn.

Phân biệt chủng loại Niết Bàn có hai cách giải thích: a) trước - sau tức là trong chân như chọn bao hàm hai loại diệt. a) trước một tức là chân như b) sau ba đều hàm luôn diệt. Tuy có hai thuyết nhưng ngài Hộ Pháp lấy phần sau làm chánh hay tôn chỉ. Hai loại Niết Bàn mở rộng thành bốn, nếu nói hai sẽ như sau: 1. Tánh tịnh Niết Bàn 2. Phương tiện tịnh Niết Bàn; mở rộng thành bốn như: 1. Tự tánh thanh tịnh Niết Bàn 2. Hữu dư y Niết Bàn 3. Vô dư y Niết Bàn 4. Vô trụ xứ Niết Bàn.

Thành Duy Thức luận quyển 10 ghi rằng, nghĩa riêng Niết Bàn lược có bốn loại: 1. Bản lai tự tánh thanh tịnh Niết Bàn, tuy bị nhiễm khách trần nhưng bản tánh tịnh có đủ vô lượng công đức vi diệu, chỉ bậc Thánh tự thân chứng bản tánh vắng lặng ấy nên gọi là Niết Bàn.

2. Hữu dư y Niết Bàn, có nghĩa là chân như khỏi phiền não chướng, tuy có khỗ vi tế chỗ y chưa diệt mà vẫn có cái hằng viễn vắng lặng, nên gọi là Niết Bàn 3.Vô dư y Niết Bàn: tức là chân như ngoài sanh tử, phiền não khổ đã hết, chỗ dư y cũng diệt, các khổ vĩnh viễn tịch nhiên nên gọi là Niết Bàn.  4. Vô trụ xứ Niết Bàn, có nghĩa là chân như ngoài sở tri chướng (5), tâm đại bi, bát nhã luôn bổ sung nhau, do vậy không trụ Niết Bàn trong sanh tử, làm lợi lạc chúng sanh khắp cùng tận đời vị lai, dụng nhưng luôn vắng lặng nên gọi là Niết Bàn. Tất cả chúng sanh đều có tự tánh thanh tịnh, hàng Nhị Thừa vô học có đầy đủ ba tánh như trên. Chỉ có đức Thế Tôn chúng ta có thể nói đầy đủ cả bốn đức tánh ấy.

4) Phần hỏi đáp:

Hỏi: Hữu dư Niết Bàn đối với bậc Thiện Thệ như thế nào?

- Đáp: Tuy không thật y nhưng hiện như tương tợ hoặc y khổ dứt mà nói vô dư y; không phải khổ y nơi lời nói dư y. Vì thế nên nói đức Thế Tôn có đủ bốn đức.

Hỏi: Hữu dư, Vô dư y của Thanh Văn sao có chỗ nói rằng đó không phải Hữu như kinh Thắng Man giải thích?

- Đáp: Có nơi cho rằng kia không có Niết Bàn nên đâu có Hữu dư y và cũng không cả hữu, lấy đây làm hơn vậy.

Nhưng Thanh Văn thân tâm hiện tại có lúc còn bị sở tri chướng, khổ y chưa dứt nên nghĩa viên tịch bị che khuất. Nói không Niết Bàn không có nghĩa Thanh Văn thật không có mà phiền não chướng hết là hiển lộ lý Hữu dư Niết Bàn. Lúc chưa chứng ngộ vô dư Niết Bàn nên nói Thanh Văn không có Vô Dư y mà không nói sau khi thân diệt không y đó dứt khổ là Vô dư Niết Bàn, nói rộng như kinh dẫn.

Hỏi: Các sở tri chướng đã không cảm sanh sao phải đoạn để đạt vô trụ xứ?

- Đáp: Sở tri chướng ẩn núp chính là Không nên đoạn thời hiển lý pháp Không. Đây là vô trụ xứ Niết Bàn đối với hai bên đều không trụ.

Hỏi: Nếu sở tri chướng cũng ngăn chướng Niết Bàn sao đoạn nó mà không đạt trạch diệt?

- Đáp: Trạch diệt lìa buộc trói hay không bị trói buộc.

Hỏi: Đã đoạn được như vậy thà đạt Niết Bàn có hơn không ?

- Đáp: Không phải các loại Niết Bàn đều trạch diệt, chung không phải thế nên tánh tịnh không phải Niết Bàn. Có thuyết cho rằng trạch diệt cũng được bao hàm là cách nói rộng của người ngoại cuộc theo lý luận cần phải biết.

- Ba đời chư Phật y Bát Nhã Ba La mật đa nên đạt vô thượng chánh đẳng chánh giác: từ đây trở xuống phần dẫn dụ chứng đắc trong ấy có hai: a) xác chứng sự đắc quả b) phỏng chỗ dụng tán dương cái hơn. Về sự đắc quả chia ra thành ba tiết: ba đời chư Phật là luận về người đắc quả. Ba đời gồm quá khứ, hiện tại và vị lai thuộc pháp hữu vi, theo trật tự thứ lớp của những gì từng có, hiện có và sẽ có lấy đó làm ba đời. Lại cũng nói như sau: những gì đã chẳng có, cái hiện đang có và từng chẳng có lấy làm ba đời. Nhưng ba đời đây có ba loại: 1. Chủng tử ba đời 2. Đạo lý ba đời 3. Duy thức ba đời. Ba đời nói theo các tông hẳn có sự dị đồng như các thuyết đề cập, miễn sao phải thích ứng hợp lý.

Phật đà (Buddha) là tiếng Phạn, Tàu dịch là giác giả (người giác ngộ) bao gồm năm nghĩa như Phật Địa Luận nên gọi là Phật. Năm nghĩa đó là: 1) có đủ hai trí: nhứt thiết trí và thiết lợi trí 2) lìa hai chướng: phiền não chướng và sở tri chướng. 3) đạt được hai tướng: nhứt thiết pháp tướng và thiết lợi pháp tướng. 4) có đầy đủ hai lợi: tư lợi và lợi tha. 5) đủ hai thí dụ: như tĩnh cơn mộng và như hoa sen nở. Ai có đầy đủ năm nghĩa đây đều gọi là Phật. Kế y Bát nhã Ba la mật đa bàn về trí hay đạt được như trên đã nói rõ, tiếp nói đạt vô thượng chánh đẳng chánh giác: nêu rõ chỗ đắc quả tức là đạt Bồ Đề giác ngộ. Từ Bồ Đề là âm tiếng Phạn, Tàu dịch nhiều nghĩa khác nhau như A là vô, Nậu Đa La là thượng, Tam là chánh, Miệu là chân, trở lại tam là chánh, Bồ Đề là đạo.  Nói tóm lại là vô thượng chánh chân chánh đạo; cách khác dịch A là vô, nậu đa la là thượng, tam là chánh, miệu là biến, tam là tri, Bồ đề là giác. Trí như lý duyên pháp chân như là chánh, trí như lượng duyên tục đế là biến. Trí vô phân biệt đoạn dứt hai vô tri là tri. Bồ Đề thoát khỏi cơn mơ ngủ gọi là giác. Bốn trí nói đây là cái thể Bồ Đề vượt khỏi quả nhị thừa nên nói vô thượng. Ở đây ngài Huyền Trang Tam Tạng nói rằng: A là Vô, Nậu Đa La là thượng, tam là chánh, miệu là đẳng, trở lại tam là chánh, Bồ Đề là giác. Không có pháp nào qua nên là vô thượng, lý sự biết hết là chánh đẳng, lìa vọng hiển chân nên nói là chánh giác. Đó gọi chung là vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Hỏi: Nêu tông đạt quả chỉ nói Niết Bàn phần dụ dẫn chứng duy chỉ Bồ Tát lấy giác chứng diệt đâu chẳng trái nhau ?

- Đáp: Chân lý đều thông trí lìa hai đức mỗi đức cứ vào một nghĩa, lược bỏ sự hổ tương làm hiển lộ điểm này. Bồ Đề là nói lược dùng ba pháp phân biệt: a) giải thích danh từ  b) ngoài thể tánh c) phân biệt các môn.

a) Giải thích danh từ: tiếng Phạn là Bồ Đề, dịch là giác. Giác có ba  loại  nghĩa  là  do trí của ba thừa mà nói là Vô Thượng Bồ Đề, tức là chân tục trí song song chứng nhị không gọi là giác.

b) Ngoài thể tánh có hai loại: a) Y thật hiện thể, bốn trí là tánh. Thành Duy Thức luận quyển 10 luận rằng Bồ Đề là bốn trí tương ứng lấy tâm làm thể b) Tướng vay mượn nói gọn có ba: 1) trí đoạn phân biệt tức dùng nhị không quán trí 2) đoạn nhị chướng chứng pháp vô vi lấy làm tự tánh. Luận Du Già phẩm Bồ Tát Địa ghi rằng, Đoạn hai chướng đạt nhị trí gọi là Bồ Đề. Luận ấy nói dứt hai chướng là Bồ Đề đó là nói quả của trí; tướng vay mượn cũng gọi là trí. Ba hoặc hai thân chung phân biệt dùng ba thân làm tự tánh. Nhiếp Đại Thừa luận nói trí thể thù thắng tức là ba thân. Đó là pháp thân gọi chung là trí, tánh của trí nên mượn gọi là trí. Phân biệt ba hoặc năm pháp chung dùng năm pháp để làm tự tánh. Kinh Phật Địa nói có năm pháp bao nhiếp Đại Giác Địa. Đó là bốn trí và tịnh pháp giới. Kinh Phật địa cho chân như là Đại Giác giống Nhiếp Đại Thừa luận nói tánh giác. Theo như Trí Độ luận gọi cảnh giác nên cho đó là giác. Trí Độ luận thuyết minh: trí và trí xứ đều gọi là bát nhã.

c) Phân biệt các môn: trước giải thích bốn trí, sau luận về ba thân. Nói bốn trí phân thành năm tiết: 1) nêu danh lộ thể 2) chuyển thức thành trí 3) các tâm sở tương ưng 4) chỗ bị duyên sai biệt 5) mới đạt đến pháp hiện khởi sai biệt.

1. Nêu danh lộ thể:

a) Đại viên cảnh trí: cũng như tấm kiếng đầy đặn đủ các duyên hình ảnh hiện. Y chỉ gương trí Phật cũng thế các xứ, cảnh, thức, mọi hiện tượng ảnh hiện trong đó từ thí dụ lập tên tức là dùng thức thứ 8 hợp với tâm lấy làm tự thể, có 11 thí dụ như Kinh Phật Địa thuyết rõ.

b) Bình đẳng tánh trí: hết thảy chúng sanh giữa tự và tha đều bình đẳng, do chỗ dụng lập danh nên gọi bình đẳng, có 10 pháp bình đẳng như trong kinh giảng rộng. Thức thứ bảy lấy tâm làm thể.

c) Diệu quan sát trí: tương ứng với tâm khéo quán tự, cộng tướng các pháp (tướng riêng, tướng chung) do dụng lập danh gọi tên nên gọi là diệu quan sát trong 10 thí dụ như Kinh có giảng rộng. Thức thứ sáu tương ứng với tâm làm thể.

d) Thành sở tác trí: Hiển hiện khắp cùng 10 phương ba nghiệp biến hóa chỗ tạo tác. Điều này cũng có nghĩa là do dụng gọi là thành sở tác trí, nêu 10 thí dụ như trong kinh có giảng rộng. Năm thức trước tương ứng với tâm làm thể.

2. Chuyển thức thành trí: Kinh Phật Địa quyển 3 ghi rằng, có hai thuyết: a) Chuyển thức thứ 8 thành Đại Viên Cảnh Trí, chuyển thức thứ bảy thành Bình Đẳng Tánh Trí, chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển năm thức trước thành Thành Sở Tác Trí. b) Thuyết thứ hai cho là chuyển thức thứ sáu thành Thành Sở Tác Trí, chuyển 5 thức trước thành Diệu Quan Sát Trí. Điều này không hợp lý vì không theo thứ tự. Thuyết pháp trừ dứt nghi là biến quan sát không phải ngũ quan hợp tác. Vô Tánh Nhiếp luận cũng có hai cách giải thích, rộng như luận kia có đề cập. Luận Đại Trang Nghiêm và Phật Địa Luận giống nhau như phần hai đã nói. Thành Duy Thức quyển 10 cũng nói giống Phật Địa như mở đầu pháp sư đã nói cần phải biết.

3. Các tâm sở tương ứng: nhứt nhứt cùng với 21 tâm sở tương ứng (thích hợp), có nghĩa là tâm sở biến hành có 5 món, tâm sở biệt cảnh có 5 món và thiện tâm sở có 11 món đầy đủ như Phật địa.

4. Chỗ bị duyên sai biệt: Trí Đại Viên Cảnh như Phật Địa đã đề cập và có 2 lối giải thích: a) Duyên như chung duyên vạn pháp, tuy có hai thuyết. b) Thắng: duy thức, quyển 10 cũng nói giống thuyết trên; còn như phân biệt đầy đủ như trong Phật địa. Bình Đăûng Tánh Trí: cả Phật Địa và Duy Thức đềøu nêu 3 giải thích: a) chỉ duyên tám tịnh thức b) chỉ duyên chân như bình đẳng c) duyên khắp lấy chân tục làm cảnh có đầy đủ như 2 luận trên nêu. Diệu quan sát trí duyên mọi cảnh không tranh luận, Thành Sở Tác Trí có hai thuyết: a) chỉ duyên với năm hiện cảnh b) duyên hết các pháp ba đời. Thuyết sau là đúng như hai luận đã dẫn.

5. Pháp hiện khởi sai biệt: Theo Phật Địa luận, Đại Viên Cảnh Trí lúc đầu đạt pháp hiện khởi là tâm kim cang, Bình Đẳng Tánh Trí tương ứng tâm Bồ Tát sơ địa lúc đầu hiện quán hiện hành ban sơ, Diệu Quan Sát Trí tương ứng Tâm Bồ Tát cũng ở sơ địa lúc đầu hiện quán hiện hành ban sơ, Thành Sở Tác Trí có hai lối giải thích: a) Sơ địa trở lên đều được hiện hành b) Khi đạt Phật quả mới hiện khởi. Nghĩa sau là đúng như Phật Địa luận đã nói. Ba thân Phật tạm phân thành 7 tiết mục để giải thích:

1) Giải thích danh từ 2) Ngoài thể tánh 3) Năm pháp bao hàm thân 4) Thường, vô thường 5) Hình lượng lớn nhỏ 6) Chỗ giáo hóa giống và khác 7) Y cõi sai biệt.

1) Trước giải thích chung sau giải thích riêng, Nói ba thân đó, ba là nêu con số, thân gồm có ba ý: thể tánh – y theo – tụ kết. Thành Duy Thức luận quyển 10 nói rằng ba thân gồm có: thể, y, tụ nói chung là thân. Phật Địa quyển 7 cũng giải thích giống như Thành Duy Thức luận có nghĩa rằng trong 6 giải thích đây là con số tiêu biểu và sau có từ gọi riêng ba thân: a) tự tánh pháp thân, có nghĩa thể chân như thường hằng không thay đổi nên gọi là tự tánh;  đầy đủ các công đức lực vô úy, pháp có nơi nương nên gọi là pháp thân b) Thọ dụng thân hay làm cho tự, tha thọ dụng được tất cả đại pháp lạc nên gọi là thân thọ dụng. c) Biến hóa thân có nghĩa là muốn làm lợi ích chúng sanh Phật thị hiện nhiều thân hình là biến hóa thân.

2) Ngoài thể tánh: Pháp thân dùng chân như làm thể, thọ dụng thân dùng bốn trí các công đức tự lợi, và thân hóa hiện cõi địa thượng với một phần công đức lấy làm tự tánh mà trong đó có điểm giống điểm khác như trong năm pháp sau phân tích rõ.

3) Năm pháp bao hàm thân: theo Phật Địa luận có lối giải thích, nghĩa là như hai cách nhiếp nêu trên mà trong đó tự tánh thân hàm thọ dụng thân; thành sở tác trí, hàm biến hóa thân như kinh nói, pháp thân là chân như. Kinh Kim Quang Minh, Kinh Phật Địa, luận rằng chuyển thức A Lại Da thành tự tánh thân; Đại Viên Cảnh Trí, chuyển thức thứ tám nên biết tự tánh thân  bao hàm cả hai như trên. Nhiếp Đại Thừa luận rằng đạt tự tánh; Nhiếp luận và Trang nghiêm luận đều cho rằng chuyển thức thứ tám thành trí viên cảnh. Kinh này thuyết minh: Thành Sở tác trí khởi tạo các nghiệp thay đổi, luận Trang nghiêm thuyết rằng, Thành sở tác trí đối với các cảnh giới khởi hiện vô số các chủng loại biến đổi khó nghĩ bàn nên biết sự bao hàm biến hóa thân để khuyên bảo nói xứ. Bình đẳng tánh trí như các luận thuyết minh hay nương tịnh độ (cõi tịnh). Tùy theo các vị Bồ Tát với niệm an lạc thị hiện nhiều thân Phật nhằm khuyến tấn nói xứ. Diệu quan sát trí cũng giống như các luận trình bày; tại một nơi tập hội lớn Phật hay hiện đầy đủ thân tự tại để thuyết pháp cho chúng sanh dứt nghi, như luận Trang nghiêm nói. Lại nói chuyển các thức mà được thọ dụng thân nên biết rằng trong hai thuyết bao nhiếp có thọ dụng thân như Nhiếp Đại thừa luận. Lại nói ba thân Phật có đầy đủ mười nghĩa hàm trí thù thắng nên cả ba thân đạt được trí như trong Nhiếp Đại Thừa có luận nghĩa thù thắng này. Có nghĩa là trước nhiếp tự tánh thân, tự tánh bốn trí tương ứng chung với hữu và ở địa thượng (địa tiền) Bồ Tát hiện một phần tướng vi tế hàm trong thọ dụng thân. Nếu còn ở địa tiền Bồ Tát hiện một phần tướng thô để hóa độ hàm trong biến hóa thân. Các kinh đều nói pháp thân là chân như thanh tịnh. Do vậy có lời tán dương đức Phật rằng: “Pháp thân Như Lai không sanh không diệt”.

Qua những câu luận dẫn trên cho ta biết rằng pháp thân là pháp giới thanh tịnh. Luận Trang nghiêm thuyết rằng Đại Viên cảnh trí là tự thọ dụng thân. Nhiếp Đại thừa luận Phật thuyết chuyển hết biến các thức thành thọ dụng thân. Song nói chuyển đó là chuyển thức A Lại Da đạt thành pháp thân. Ở đây nói chuyển là tống khứ chủng tử hai chướng nơi thức thứ tám để được nương pháp thân thanh tịnh, chứ không  nói trí viên cảnh là pháp thân Phật. Lại thọ dụng thân có hai loại:

a- Tự thọ dụng thân trong ba vô số kiếp do tu tập thành

b- Tha thọ dụng thân là thọ pháp lạc nơi chư vị Bồ Tát nên bốn trí tương ứng cộng chung hữu và một phần giáo hóa làm thọ dụng thân. Kinh luận đều thuyết minh rằng hóa thân là biến hóa chúng sanh nơi địa tiền hiện nhiều thân hình khác  nhau. Đã là chúng sanh ở cảnh giới địa tiền nên biết không phải là công đức chân thật, đó chỉ do biến hóa ra thôi, như các kinh luận dẫn giải. Thành sở tác trí, hay khởi biến nghiệp không phải là hóa thân. Phật có ba thân đủ trí thù thắng bao hàm pháp thân là trí chỗ nương để chứng; hóa thân là trí khởi dụng, giống như trí nên nói mượn làm trí cũng không phải sai. Thành Duy Thức luận cũng không khác thuyết trên nên ở đây không lặp lại nữa.

4) Thường, vô thường

Hỏi: Thọ dụng thân và Biến hóa thân đã có sanh diệt tại sao các kinh nói rằng Phật thân thường hằng ?

- Đáp: Do pháp thân nương hai sở y thọ dụng pháp lạc không bỏ sót nên hiện thân giáo hóa vô số không ngừng như thường thọ sự an lạc và thường bố thí thức ăn gọi là thường. Luận Trang Nghiêm thuyết minh thường có ba loại: 1. bản tánh thường nghĩa là tự tánh thân, vì thân này bản tánh thường trú 2. Bất đoạn thường nghĩa là thọ dụng thân nhận được pháp lạc không gián đoạn 3. Tương tục thường nghĩa là hóa thân mất rồi lại hóa hiện, biến hóa vô cùng.

5) Hình lượng lớn nhỏ: tự tánh pháp thân giống như hư không, không thể diễn tả được hình trạng lớn nhỏ ra sao, bằng vào tướng dạng mà nói có cùng khắp mọi nơi chốn. Thọ dụng thân có sắc, chẳng sắc đó không phải sắc của các pháp, nó không hình dáng nên cũng không thể diễn tả được dáng lớn nhỏ ra sao. Nếu bằng vào thân và chỗ biết cảnh cũng nói được rằng nó biến khắp mọi chỗ. Sắc có hai loại: a) sắc thật, b) sắc biến hóa thành. Nói sắc thật vì trong ba vô số kiếp tu tập sanh ra đầy đủ trong pháp giới tạo thành cõi Tịnh Độ mà chỉ có Phật cùng với Phật mới có thể biết được. Sắc biến hóa do lực bi nguyện mà chư Bồ Tát vào các cõi quốc độ hiện nhiều thân hình không nhứt định vì giáo hóa ở địa tiền hiện hóa thân chung với sắc hay không phải sắc; nó phi sắc vô hình nên không thể biết hình dạng. Sắc bất định theo chỗ hóa hiện xem đầy đủ nơi luận đã giải thích.

6) Chỗ giáo hóa giống và khác nhau: Phật Địa luận thuyết rằng, chư Phật hóa hiện chúng sanh pháp cộng (chung) hay bất cộng (không chung) và nêu ra ba lập luận:

a) Chỉ cộng tất cả mọi công đức, hạnh, nguyện giống nhau như luận trên có dẫn đủ.

b) Bất cộng (không chung) vì Phật hóa hiện nhiều loại chúng sanh, mỗi loài tùy bản tánh riêng như đã dẫn giải.

c) Như thật có nghĩa là có chung và có không chung (bất cộng) từ thời vô thỉ đến nay pháp tánh như vậy nên ràng buộc với nhau hoặc nhiều tùy thuộc một hay một tùy thuộc nhiều đầy đủ như luận đã dẫn. Theo Thành Duy Thức giống như giải thích số 3 trên, xem phần luận giải để biết rõ.

7) Y cõi – quốc độ - sai khác: Theo Thành Duy Thức luận, thân có bốn loại, đó là: tự tánh thân, tự thọ dụng thân, tha thọ dụng và biến hóa thân; quốc độ có bốn loại là: tự tánh độ, tự thọ dụng, tha thọ dụng và biến hóa độ, tức bốn loại thân trên theo thứ tự ở bốn quốc độ (cõi) khác nhau. Tuy tự tánh thân và tự tánh độ thể không khác nhưng về Phật Pháp tánh tướng có khác nên theo ý nghĩa mà nói giữa năng và sở. Biến hóa thân không phải chỉ ở nơi cõi tịnh mà cũng ở cõi uế nữa như các luận có giải đầy đủ.

- Nên biết bát nhã ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú: từ đây trở xuống phần nêu chỗ Dụng tán thán cái hơn trong đó có hai: a) trước giải rộng theo văn xuôi b) nêu bài kệ kết lời tán thán. Phần (a) có hai ý: 1) Nói rõ việc tự lợi 2) Bàn về lợi tha. Đây nói qua tự lợi: bảo rằng chú nói đủ phải là chú thuật, minh tức diệu huệ đoạn chướng chứng Không. Nói cần thiết, vi diệu, thuật nên lấy chú ca ngợi cái Dụng hơn, thần không dùng gì để đo đạc được gọi là đại thần chú, xóa mê trừ si gọi là đại minh chú. Siêu việt khỏi nhị thừa nên gọi là vô thượng, vượt hẳn Bồ Tát quân bình Phật tuệ nên lập lại 2 lần là vô đẳêng đẳng.

- Hay trừ hết thảy mọi sự khổ, chân thật không hư, câu này là phần hai, bàn về cái Dụng lợi tha, nương diệu huệ đây làm cho chúng sanh vượt qua khổ sanh tử chứng Niết Bàn an lạc, sung sướng mở miệng lưỡi, tơ tóc giao tiếp còn bày tỏ lời thật huống chi che đậy nơi 3000 cõi mà nói lời sai lầm như Kinh gọi là chân thật ngữ – lời nói chân thật.

- Cho nên nói chú Bát nhã ba la mật đa, liền nói chú rằng: Vượt thoát, vươt thoát nhanh lên, vượt thoát nhanh gấp, vượt được tới bờ giải thoát, Sa bà ha ! Câu này vẫn ở phần hai nêu lên câu kệ kết thúc lời tán thán trong đó có hai ý: dùng văn trường hàng – văn xuôi - nêu làm tiêu biểu và sau dùng câu kệ ca ngợi là chính. Nhưng việc giải thích câu kệ có nhiều điểm không giống, chẳng hạn: thứ nhất câu chú không thể dịch được do từ ngàn xưa lưu truyền lại. Chú này mãi tận bên Tây Trúc phát âm theo đúng câu lời bí mật, nếu dịch là làm mất hiệu nghiệm nên giữ nguyên từ tiếng Phạn. Thứ nhì phải hiểu trong chú nêu tên chư vị Thánh hoặc quỷ thần hay nói các pháp ý nghĩa thật uyên thâm một lời chứa nhiều nghĩa. Bên đây (Trung Hoa) không có lời chính xác hay từ tương đương với câu thần chú ấy nên giữ nguyên âm tiếng Phạn. Từ Bạt Già Phạm chẳng hạn cũng giống như mật chú có thể phiên dịch thành Nam mô, Phật đà gia v.v.. cố gắêng giải thích câu thần chú này phân thành ba.

a) Yết đế yết đế: dịch là độ độ mà văn xuôi trước câu chú đó có hai từ Bát Nhã. Đây ý nói làm hiển tỏ ý bát nhã có nhiều công năng tự độ và độ người nên gọi là độ độ.

 b) Câu ba la mật đa… là văn xuôi nói về sự giải thoát, dịch là bỉ ngạn, đạo tức là đạt Niết Bàn gọi là bỉ ngạn (bờ kia tức là bờ giải thoát). Yết đế, yết đế nói là độ độ đến nơi, nghĩa là đến bờ kia là nơi để vượt qua nên nói là vượt thoát nhanh lên. Từ ba la như trên đã dịch nghĩa, tăng yết đế dịch là đến cùng, nói Bồ Đề là bờ bên kia, tức giải thoát giác ngộ.

c) Sa bà ha dịch là nhanh chóng, nghĩa là do diệu huệ có công dụng thù thắng hay nhanh chóng đến bờ giác. Lại hiểu bài kệ đó bốn câu chia thành hai đoạn: 2 câu đầu phỏng theo pháp tán thán chỗ hơn và hai câu sau cứ nơi nhơn ca ngợi chỗ hơn. Phỏng theo pháp trước dựa nhân sau là quả. Hai lần lặp lại yết đế Tàu dịch là thắng thắng (hơn hơn). Vì bát nhã có đủ tự lợi và lợi tha hai dụng hơn hẳn nên nói hơn hơn hay hơn hẳn. Ba la yết đế gọi là bỉ ngạn thắng hay đến bờ kia hẳn do bát nhã nên đạt đến bờ Niết Bàn hơn hết. Đó là ý nghĩa của bỉ ngạn thắng. Cứ nơi người ca ngợi chỗ hơn trước dựa nhân sau là quả, ba la tăng yết đế dịch là bỉ ngạn tăng thắng hay Niết Bàn thắng diệu. Ở đây tán thán cái nhân nhứt thừa Bồ Tát là người cầu đạt Niết Bàn giải thoát. Bồ Đề sa bà ha dịch là giác rốt ráo. Câu này tán thán quả vị của ba thân mà người giác tròn đầy gọi là giác cứu cánh, hoặc cũng có thể nói bốn câu cách khác: tán thán Tam Bảo hơn hết: 2 câu trước như thứ tự phải biết là tán thán pháp về hạnh quả, và 2 câu sau như thứ tự cũng phải biết là tán thán Tăng và Phật vậy.

 

Tán thán Tâm Kinh Bát Nhã

 

 

Dịch xong ngày 24/06/2005

Tức là 18 tháng 5 năm Aát Dậu

Tại chùa Pháp Bảo _ Sydney

Sa môn Thích Bảo Lạc cẩn dịch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích:

 

(1) Tâm vương: tâm dẫn đầu các pháp như ông vua ra lịnh thần dân phải vâng mệnh thi hành. Có 8 thức tâm vương là: nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý (thức thứ 6), mạt na (thức thứ 7), A lại da (thức thứ 8) cũng gọi là tàng thức.

(2) Tâm sở: tùy thuộc tâm vương gồm có 51 món: 5 tâm sở biến hành, 5 tâm sở biệt cảnh, 11 tâm sở thiện, 6 căn bản phiền não, 20 tùy phiền não, 4 bất định (hối, miên, tầm, tư). Những tâm sở này luôn luôn tùy thuộc tâm vương, hay nói cách khác 8 thức tâm vương điều động các tâm sở.

(3) Quang phổ: ánh sáng chiếu rộng khắp nơi, nói cách khác tia sáng mặt trời tỏa chiếu trên vạn vật và khắp cùng vũ trụ.

(4) Dị thục thức: tên gọi khác của thức thứ tám – A lại da – vì thức này chấp chứa chủng tử của tất cả nghiệp do thân, miệng, ý con người tạo ra, nên gọi là dị thục thức.

(5) Sở tri chướng: một trong hai chướng, đối lại phiền não chướng. Do các tâm sở tùy thuộc gây rối loạn thân tâm loài hữu tình, ngăn cản tiến trình tu giải thoát.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lược giải Tâm kinh

Bát Nhã Ba La Mật Đa

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh

Quyển 33, số hiệu 1712 (251)

Sa môn Pháp Tạng thuật đời nhà Đường

Sa môn Thích Bảo Lạc dịch,

 đời Thủ tướng John Howard

từ Hán văn sang Việt văn

 

 

 

 

 

 

 

 

Lược giải Tâm Kinh

Bát Nhã Ba La Mật Đa

 

Luận về chân nguyên khuôn mẫu sáng làu, phẳng lặng như tờ bị cách ngăn do nơm rọ. Diệu giác huyền viễn uyên nguyên vượt ngoài ngôn ngữ. Dù chân tục cả hai lẫn lộn, không - hữu đều quên; nhị đế hằng còn: một vị luôn hiển hiện: lương hảo, chân không chưa từng không hữu, tức lấy Hữu bàn Không. Giả Hữu thoạt đầu chẳng không tức lấy Không bàn Hữu. Hữu không Hữu nên chẳng phải Hữu, không Hữu không nên chẳng phải Không. Không của chẳng Không là Không mà chẳng đoạn; Hữu của chẳng Hữu là Hữu mà chẳng thường. Bốn chấp ấy mất nhưng trăm cái Phi đây tồn tại, Bát Nhã uyên áo há chẳng do đấy ư? Nếu tỉ mỉ trình bày đầy đủ bằng lời lẽ cũng phải hơn 20 vạn bài tụng; còn như tóm tắt điểm quan trọng lý ẩn trong 14 dòng. Thế mới rõ chân giáo chợt có rộng hẹp nhưng tùy  duyên, tôn chỉ ngoài ngôn từ, viên thông mà đầy đủ.

Tâm kinh Bát Nhã thật quả như đuốc sáng soi chiếu tối tăm, là con thuyền lướt sóng cứu khổ nạn, là phao nổi ưu tiên dẫn đưa người đắm đuối. Song Bát Nhã lấy oai thần làm Thể, Ba La Mật Đa lấy đạt đến giải thoát làm Dụng, Tâm rõ ràng cần có chỗ qui về, Kinh xâu kết (xuyên suốt) lời dạy. Từ pháp nêu dụ rõ ràng lấy đó làm đề mục nên Phật thuyết kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Đem giảng giải kinh Bát Nhã, phân thành 5 mục: 1) Phấn khởi dạy 2) Bao nhiếp sự hàm dung 3) Tôn chỉ ý thú 4) Thích đề kinh 5) Giảng rộng văn kinh.

1. Phấn khởi dạy: theo Đại Trí Độ Luận rằng, như núi chúa Tu Di, không phải không do nhân duyên, không phải thiếu duyên mà núi chấn động; điểm hứng thú Phật giảng kinh Bát Nhã cũng như thế, phải có đầy đủ nhiều nhân duyên như: a. muốn phá trừ những tà kiến ngoại đạo, b. muốn phá chấp của Nhị thừa khiến nhập pháp Đại thừa, c. Làm cho hàng sơ phát tâm Bồ Tát không chấp pháp Không, d. Làm cho ngộ nhị đế (chân tục) phát tâm hiểu đúng trung đạo, e. Hiển bày đức cao vời của Phật khiến người sanh tịnh tín, f. Muốn làm cho người phát tâm Đại Bồ Đề g. Khiến tu hạnh rộng sâu của Bồ Tát. h. Làm cho dứt mọi trọng chướng. i. Khiến đạt quả Bồ Đề Niết Bàn. k. lưu lại đời sau làm lợi ích chúng sanh. Lược nêu gồm trong 10 ý như trên Phật phấn khởi giảng dạy kinh này.

2. Bao nhiếp sự hàm dung: có nghĩa là hàm chứa ba tạng khế kinh, trong hai tạng gồm có Bồ Tát tạng, trong đó quyền – thật bao hàm Thật giáo.

3. Tôn chỉ ý thú: lời biểu thị là tông; chỗ của tông qui hướng là thú. Song trước nêu chung, sau nêu riêng, chung lấy ba môn Bát Nhã làm tôn: thật tướng có nghĩa là quán rõ chân tánh; quán chiếu: hay quán trí mầu nhiệm, văn tự có nghĩa là soi rõ lời dạy tối thượng, không ngoài ba môn này nên lấy đó làm tôn chỉ. Nghĩa riêng cũng có ba: 1) giáo nghĩa đối một: lấy văn tự dạy làm tôn, hai nghĩa khác là thú 2) Cảnh trí đối một: lấy cảnh chân không là tôn, quán rõ trí là thú 3) Nhân quả đối một: lấy nhân hành Bồ Đề là tôn, Bồ Đề quả đức là thú.

4. Giải thích đề kinh: Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh cũng có ba điểm: 1) trước hết giáo nghĩa phân thành 2: có nghĩa tâm bát nhã là nghĩa được đề cập, một chữ kinh là nghĩa năng dẫn tức là làm hiển tỏ kinh Bát Nhã theo nghĩa lập danh. 2) Y theo nghĩa được đề cập nêu pháp ví dụ có hai ý: nghĩa là Bát Nhã… là pháp được đề cập; một chữ Tâm là nêu ví dụ dẫn chứng, tức nội bát nhã bao hàm diệu nghĩa quan yếu, huống tâm người là chủ vốn nằm trong hệ thống chặt chẽ. 3) Y theo pháp thể – dụng phân thành hai: lấy Bát Nhã làm thể. Bát Nhã dịch là trí tuệ tức là ngộ thần kỳ, huyền nhiệm chứng diệu chân nguyên, Ba La Mật đa là dụng. Ba La Mật Đa dịch là đáo bỉ ngạn – đến bờ kia – nghĩa là do chỗ diệu huệ này, mà vượt qua hết sanh tử đến bờ chân không (giải thoát); giản dị huệ chẳng đến bờ giải thoát nên lấy làm danh. Có nghĩa rằng thể cũng là dụng, dụ cho pháp, dạy về giáo nghĩa nên lập danh ấy.

5. Giảng giải văn kinh: - Quán Tự Tại Bồ Tát (Kinh Bát Nhã) cũng gọi là Tâm Kinh. Kinh không có lời tựa và phần lưu thông. Toàn kinh chia thành 2 đoạn: trước hiển rõ Bát Nhã và sau là nói chú, nêu rõ trí tuệ bí mật. Dựa vào đâu bàn điểm này thành 2 ý ? Nghĩa là làm sáng tỏ trong lời thuyết minh, khiến khởi huệ hiểu rõ mà  diệt phiền não chướng; lấy lời chú bí mật nói, khiến đọc tụng sanh phước nên diệt được tội chướng. Vì diệt hai chướng mà thành nhị nghiêm (phước – trí). Ở đây chia thành hai, y cứ theo văn trên cũng còn phân làm hai: a) trước lược nêu đại cương có hai tiết: từ Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không trở đi: nêu thật nghĩa trình bày rộng để làm sáng tỏ. Vì nghĩa không thuần túy nên  trước nêu lược; không phải lược mà đủ nên kế đến, phải giải thích rộng. Hơn thế, trước căn cứ thực hành (nói lược), sau theo đó giải rộng để cho rõ nghĩa. Căn cứ hành nói lược có 4 ý: 1) người năng quán 2) hạnh đáng hành 3) Cảnh quán hành 4) nêu rõ lợi ích năng quán. Vã đề cập về :

1. Người năng quán tức Quán Tự Tại Bồ Tát là người năng quán, có nghĩa là với lý sự cảnh không thiếu; quán thông tự tại nên gọi như thế. Hơn thế nữa, quán cơ duyên đến cứu cánh tự tại không sót nên lấy đó làm danh hiệu. Trước y cứ trí và sau y cứ bi; Bồ có nghĩa là Bồ Đề, Tàu dịch nghĩa là giác, Tát có nghĩa là Tát đỏa, dịch là hữu tình chúng sanh. Vì nhân vật này lấy trí trên cầu giải thoát, dưới lấy bi cứu độ chúng sanh tùy cảnh mà đạt danh hiệu vậy.

2. Hạnh thực hành: lúc thực hành sâu xa Bát nhã ba la mật đa: nghĩa là bát nhã diệu hạnh có hai loại: a) cạn tức là nhơn không bát nhã b) sâu là pháp không bát nhã. Ở đây hiểu đơn giản cạn khác sâu nên gọi là hành thâm bát nhã; thời có nghĩa là vị Bồ Tát có khi cũng giống Nhị thừa quán vào Nhơn không. Kinh Pháp Hoa ghi rằng nên lấy thân Thanh Văn để được độ liền hiện thân Thanh Văn v.v… Đây không phải thời như thế nên nói lúc thực hành sâu xa vậy.

3. Cảnh quán hành: có nghĩa đạt thấu thấy năm uẩn tự tánh đều không tức nhị không (nhơn-pháp) lý sâu nhờ huệ thấy được.

4. Lợi ích năng quán: nghĩa là chứng chân không khổ não hết từø đó nên dứt khỏi hai loại sanh tử phần đoạn và biến dịch; chứng quả Bồ Đề Niết Bàn an lạc rốt ráo nên nói rằng vượt qua mọi khổ ách. Trở lên lược không nêu hết.

- Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế. Từ đây trở đi về phần thật nghĩa nói rộng, trong đó có 5 điểm: 1) dứt trừ ngoại nghi 2) hiển thể pháp 3) làm rõ chỗ lìa 4) luận chỗ sở đắc 5) tán thán điểm thù thắng. Đoạn 1) dứt trừ nghi có 4 cách giải thích: a) dứt bỏ nghi Tiểu thừa b) giải bao hàm cả nghi của Bồ Tát c) liền hiện rõ đúng nghĩa d) thành tựu quán hạnh. a) Đoạn đầu nói Xá Lợi Tử là nêu người nghi. Xá Lợi là tên một loài chim, Tàu dịch là chim Thu Lộ. Do mẹ Ngài thông minh lanh lợi như mắt loài chim kia, nhân đó đặt tên Ngài là con của người; liên hệ mẹ là hiệu nên gọi là Thu Tử. Thế là mẹ nhân loài chim, con liên hệ hiệu mẹ thông tuệ đệ nhất đáng làm thượng thủ (đứng đầu) nên làm đối tượng giải thích sự nghi ngờ. Xá Lợi Tử nghi rằng: con là Tiểu Thừa còn trong vị hữu dư (chưa giải thoát) thấy uẩn không nhơn và cũng gọi là pháp không, cùng với không đây khác nhau thế nào? Với nghi vấn này Phật giải thích rằng: con thấy uẩn nghĩ không nhơn là uẩn khác không. Ở đây nêu rõ các uẩn tự tánh vốn không, nhưng không như con thấy, nên nói sắc chẳng khác không v.v…

_ Lại nghi rằng: con nơi Tiểu Thừa vào vị Vô Dư thân trí đều diệt cũng không vô sắc cùng với đây khác nhau thế nào?

- Phật giải đáp: con thấy tức là sắc chẳng phải không, diệt sắc mới thành không ở đây không phải vậy. Sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt không nên không giống như kia. Vì nhị thừa nghi chẳng ra ngoài hai chấp đây nên phải giải thích. b) giải thích nghi hàm luôn Bồ Tát, theo như Bảo Tánh luận rằng, không loạn ý Bồ Tát có 3 loại nghi: 1) nghi không khác sắc, chấp sắc ngoài không. Ơû đây nêu rõ sắc chẳng khác không để trừ nghi kia 2) nghi không diệt sắc, chấp đoạn diệt không. Nay nêu rõ sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt không để dứt nghi kia. 3) Nghi không là vật, chấp không là có. Ở đây nêu rõ không tức là sắc, không thể lấy không chấp không để dứt nghi kia. Nghi đã dứt nên chân không hiển bày vậy. c) Liền hiển rõ đúng nghĩa: chỉ vì sắc là không, do tướng vọng sắc có 3 nghĩa: 1. tướng trái nghĩa như cho rằng: trong không không sắc v.v… lấy không làm hại sắc. Lấy đấy làm chuẩn rằng trong sắc không có không, vì sắc trái không. Như cho rằng hằng còn ắt hẳn hằng mất. b) nghĩa chẳng tương quan nhau, nghĩa là cho sắc là huyễn sắc ắt chẳng ngại không; lấy không là chân không hẳn không ngăn ngại huyễn sắc. Nếu ngăn ngại sắc là đoạn không, không phải chân không, nếu ngăn không tức là thật sắc, không phải huyễn sắc. c) nghĩa hợp tác nhau có nghĩa nếu huyễn sắc này chỉ thể chẳng phải không là không thành huyễn sắc. Bởi do sắc là không mới có được sắc. Kinh Đại Phẩm ghi rằng, nếu các pháp chẳng phải không tức là không nhơn không quả. Trung Luận luận rằng do nghĩa Có – Không nên các pháp mới thành cho chí chân không cũng vậy. Lấy các điểm nêu trên làm chuẩn phải biết như vậy. Vì thế chân không thông với Hữu có bốn nghĩa: 1) Quên ta còn người: vì không tức là sắc nên sắc hiện ẩn không 2) Mất người còn ta: do sắc là không nên mất sắc hiển không  3) Tự tha đều tồn tại: vì ẩn hiển không hai là chân không, có nghĩa là sắc chẳng khác không là huyễn sắc – sắc tồn tại, không chẳng khác sắc là chơn không hiển không, vì luôn không ngại nhau nên cả hai đều tồn tại. 4) Tự tha đều mất: vì nêu lên thể tướng tức là chiếm hết cả hai quên mất hẳn hai bên. Sắc tráo nơi không cũng có bốn nghĩa: 1. Tha hiện tự diệt 2. Tự hiển tha diệt 3. Tự – Tha tồn tại 4. Cả hai đều dứt hết. Trở lên lấy đó làm chuẩn nên suy nghĩ. Thế thì sắc huyễn còn mất không ngại chân không tự tại ẩn hiển, hiệp chung lại thành một vị viên mãn không nương gá, đó là pháp tánh vậy. d) Thành tựu quán hành hiểu theo ba ý: 1) Quán sắc tức là không để dứt hành, quán không tức là sắc để quán hành. không – sắc bất nhị (không hai), một niệm hiển bày chỉ quán đầy đủ mới là cứu cánh. 2) Thấy sắc là không tức thành đại trí, nhưng không trụ nơi sanh tử, thấy không là sắc thành đạ bi, nhưng không trụ Niết Bàn. Vì sắc – không cảnh bất nhị, bi – trí nghĩa không hơn hành chỗ vô trụ xứ 3) Trí Giả (Khải) đại sư dựa kinh Anh Lạc lập thành một niệm ba quán nói:

1. Từ giả nhập không quán có nghĩa sắc là không

2. Từ không nhập giả quán có nghĩa không là sắc

3. Không – giả quán bình đẳng có nghĩa sắc – không không khác nhau.

2. Hiển lộ pháp thể: Xá Lợi Tử, các pháp không tướng trong đó gồm có 2 điểm: trước chung sau riêng. Trước nói rằng các pháp không tướng có nghĩa các uẩn chẳng phải một nên gọi là các pháp. Làm sáng tỏ trạng thái không đây nên nói là không tướng. Trung Biên luận rằng, không hai Hữu đấy không phải hai không tướng. Nói không hai tức là không năng chấp sở chấp. Như nói, có cái không này là có năng chấp – sở chấp, không hai bất nhị gọi là không tướng.

- Không sanh-không diệt, không dơ-không sạch, không tăng-không giảm hai cái riêng hiển trong hữu thành ba đối với sáu pháp không, nhưng có ba lối giải thích: a) y phẩm vị b) y pháp giải thích c) y quán hành. a) y phẩm vị như:       1. Không sanh không diệt, còn vị phàm nơi địa tiền, nghĩa là hạng người phàm phu chết đây sanh kia trôi lăn nhiều kiếp, là vị sanh diệt, đạt chân không lìa vị này nên nói không sanh không diệt 2. Không dơ – không sạch: ở phẩm vị Bồ Tát đang giữa đường có nghĩa là chư Bồ Tát còn chướng nhiễm, mà đã tu tịnh hạnh gọi là cấu tịnh vị, đạt chân không lìa vị này nên nói là không dơ – không sạch 3. Không tăng, không giảm: trên đường tu tập sau khi đạt Phật quả, sanh tử mê lầm xưa chưa dứt nhưng nay đã hết là diệt vậy. Qua tiến trình tu luyện vạn đức phát sanh trước chưa tròn đầy mà nay được trọn vẹn là tăng; đạt chân không này nên nói rằng không tăng – không giảm. Hơn nữa, luận về Phật tánh chia ba loại: 1. Ở địa tiền gọi là tự tánh trụ Phật tánh 2. Giữa đường tu gọi là dẫn xuất Phật tánh 3. Sau khi đạt quả gọi là đắc quả Phật tánh. Phật tánh duy nhứt chỉ một mà phân thành ba. Ở đây ví chân không cũng không khác, nhưng y vào vị mà phân khác. Lại pháp giới không có sai biệt như luận dẫn rằng, trước gọi là nhiễm vị, kế đến là nhiễm tịnh vị và sau là thuần tịnh vị đều giống đây. b. y pháp giải thích, nghĩa là chân không đây tuy là sắc, nhưng sắc do duyên phát khởi, chứ chân không không sanh sắc, do duyên khởi động, chân không chẳng diệt. Lại theo dòng không nhiễm, ra khỏi chướng ngăn không tịnh, ngoài ra chướng hết chẳng giảm, đức dày chẳng tăng. Những sanh diệt đây là pháp hữu vi  mà dịch là hiển tuớng chân không nên gọi là không tướng. c. y quán hành có nghĩa đối với ba tánh thành lập ba vô tánh để quán.

1. Với tánh giả lập (biến kế sở chấp tánh) tạo vô tướng quán, nghĩa là tánh kia tức không nên không sanh diệt 2. Với tánh tùy thuộc (y tha khởi tánh) tạo nên quán vô sanh, nghĩa là tùy thuộc nhiễm tịnh do duyên không tánh 3. Với tánh tuyệt đối (viên thành thật tánh) tạo nên quán vô tánh, nghĩa là hai tánh trước chẳng có nhưng không mất, quán chiếu soi tỏ nhưng không tăng. Lại nơi trói buộc ra khỏi ngăn chướng tánh không tăng giảm. Hơn thế, lầm pháp không sanh diệt, duyên khởi chẳng nhiễm tịnh, chân không không tăng giảm. Lấy ba vô tánh này làm hiển lộ tướng chân không kia.

3. Nêu rõ chỗ lìa: vì thế trong không không có sắc, không thọ, tưởng, hành, thức, không nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (sáu trần); không nhãn giới cho đến không ý thức giới (sáu thức). Nhưng chỗ lìa chân không phải qua nhiều môn mà đại lược có bốn môn như: 1) pháp tướng khai hiệp môn 2) Duyên khởi nghịch thuận môn 3) nhiễm tịnh nhân quả môn 4) cảnh trí năng sở môn.

1) Pháp tướng khai hiệp môn: Trước hết, vì thế trong không là trước đó đã nói tới không sanh không diệt v.v… trong chân không không có sắc v.v… trong chân không cũng không cả năm uẩn, đây y theo tương vi môn (pháp trái nhau) nên gọi là Không.

Lý chân thảy đều không mất sắc, vì tự tánh Không không đợi hoại nên bên dưới lấy làm chuẩn phải biết. Đây nói về năm uẩn hợp với sắc làm một, tâm mở là bốn, hai không nhãn giới… không không cả 12 xứ. 12 xứ hợp với tâm là một nửa, nghĩa là ý xứ toàn diện và pháp xứ một phần, mở sắc là mười rưỡi, nghĩa là năm căn, 5 cảnh là 10 xứ và pháp xứ một phần ba, không nhãn giới v.v… là không cả 18 giới. Trong 18 giới cả sắc tâm đều mở, như uẩn ở trên cần phải biết mà trong đó đầy đủ ba mục như luận đã nói đến.

2) Duyên khởi nghịch thuận môn: không vô minh là thuận quán vô minh lưu chuyển. Vì tánh vô minh không nên gọi là không vô minh, cũng như không không hết vô minh là quán nghịch vô minh hoàn diệt. Vì chân không nên không thể hết, đây nêu lên chi đầu trong nghi vấn 10 chi phải lấy môn này làm chuẩn nên nói cho chí sau cùng một chi, nghĩa là lão tử cũng lưu chuyển hoàn diệt và cũng đều là Không vậy.

3) Nhiễm tịnh nhân quả môn: không khổ, tập, diệt, đạo… khổ và tập là nhân quả thế gian, có nghĩa khổ là kết quả sinh tử nêu lên trước làm cho sanh khuất mất, tập là nhân của sanh chính là nghiệp phiền não, yểm khổ, đoạn tập là nêu quả trước nhân sau. Diệt và Đạo là nhân quả xuất thế gian. Diệt là quả Niết Bàn đưa lên trước làm vui thú, Đạo là nhân của vắng lặng có nghĩa là tám chánh đạo. Sau khi tu tập tám chánh đạo thấy hết thảy đều không Vô - Hữu vậy.

4) Cảnh trí năng sở môn: không trí cũng không đắc, không phải chỉ trong không trung là không có gì trước đó. Biết cái không kia cũng không thể được nên nói là không trí tức biết lý không cũng không thể được vậy. Câu hỏi trên cho rằng không tức là sắc làm rõ sắc không mất. Hỏi tại sao đoạn này lại nói: tất cả đều không; đâu chẳng phải cái không này diệt sắc chứ?

- Đáp: trước tuy không còn bị ngăn ngại nhưng chưa hẳn thường chẳng mất. Nay tất cả đều mất chưa hẳn thường chẳng lập. Đại Phẩm kinh ghi rằng, mọi pháp không sở hữu, như thế Hữu đây là Không, y cứ vào đây mà biết là không sở hữu. Trên y cứ Hữu như thế lại hướng theo chiều thuận, còn ở đây theo chiều nghịch, một pháp hai nghĩa tùy cách nói không trái nhau.

4. Nói rõ sở đắc có hai: vì vô sở đắc cho nên… 1) lặp lại ở trước tiếp nối sau 2) luận đúng sự sở đắc . 1) Cho rằng vì vô sở đắc cho nên phải lặp lại trước tiếp theo sau. Vì ấy là nguyên do, cho nên là nhân, do trước vô sở đắc là nhân khiến sau có sở đắc vậy. Kinh Đại Phẩm ghi rằng, vô sở đắc nhưng mà đắc. 2) Luận chỗ sở đắc có 2: trước tiên Bồ Tát đạt đến Niết Bàn là dứt quả, và sau chư Phật đạt Bồ Đề là kết quả.

1. Trong phần đầu còn chia 2: trước nêu nhơn y pháp và sau dứt đoạn chướng đạt quả. a) Nhơn y pháp như nói rằng Bồ Đề Tát Đỏa (giác hữu tình – giác ngộ chúng sanh) là nêu người, ý nghĩa như đã giải thích trên. Nương Bát Nhã Ba La Mật Đa cho nên, tức là y theo pháp Bát Nhã hành trì cho nên để tiếp phần sau. b) Đoạn chướng đạt quả: tâm không quái ngại. Đoạn chướng có 3: a) thực hành thành tựu b) đoạn chướng c) đạt quả. a) Thực hành thành tựu như cho rằng tâm không quái ngại là sự tu hành thành tựu có nghĩa là mê lầm không làm tâm lay chuyển, cảnh không làm trí chao đảo. b) đoạn chứớng: không ngăn ngại cho nên không bị khủng bố, xa lìa mọi điên đảo, mộng tưởng như cho rằng không quái ngại cho nên lặp lại trước để tiếp sau; không bị khủng bố có nghĩa là bên ngoài không bị ma oán quấy nhiễu (phá phách) tức là xấu ác không xâm hại, xa lìa hết điên đảo, mộng tưởng có nghĩa bên trong không bị mê lầm (hoặc chướng) làm điên đảo tức là nhân ác tiêu sạch.

c) Đạt quả tức đạt đến quả vị Niết Bàn. Niết Bàn dịch là viên tịch tức vắng lặng, có nghĩa là đức đủ đầy hoàn bị gọi là viên, chướng hoặc đoạn sạch hết là tịch. Nói một cách giản dị Tiểu Thừa  phương tiện lập hóa thành (để nghỉ ngơi – chưa phải là bảo sở) nay một lần đạt được là chắc chắn nên gọi là cứu cánh (rốt ráo). Bởi vì, trí hay đạt được chắc chắn nên gọi là cứu cánh (rốt ráo). Hơn nữa, trí hay đạt tới rốt ráo điểm biên tế của Niết Bàn nên nói là cứu cánh vậy.

2. Đạt quả Bồ Đề: ba đời chư Phật y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa cho nên, trong câu này có 2 ý: a) nêu người y pháp b) chứng đắc quả. a) Người y pháp có nghĩa là ba đời chư Phật đều không khác lộ trình tu tập và cũng chỉ một môn này cho nên y Bát Nhã Ba La Mật Đa mà hành trì vậy. b) chứng đắc quả: đạt vô thượng chánh đẳng chánh giác. A Nậu Đa La dịch là vô thượng, tam miệu dịch là chánh, tam kế dịch là Đẳng, Bồ Đề dịch là giác, tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Giác có 2 nghĩa: a. Chánh giác tức là như lý trí, quán rõ chân đế. b. Đẳng giác tức là như lượng trí, quán rõ tục đế đều chí cực vô biên nên gọi là vô thượng, trở lên đã đạt rốt ráo nên biết ca ngợi công năng của thần chú.

5. Bát nhã ba la mật đa là chú đại thần, là chú đại minh, là chú vô thượng, là chú vô đẳng đẳng, trong câu này có 2 ý: tán thán riêng và tán thán chung.

Tán thán riêng như nói: vì thế nên biết lặp lại trước để tiếp sau. Do chư Phật, Bồ Tát y Bát Nhã mà chứng quả Bồ Đề Niết Bàn nên biết, Bát Nhã là đại thần chú v.v… tán thán chỗ siêu tuyệt của chú cũng là để ca ngợi bốn đức (thường – lạc – ngã – tịnh), song có ba cách giải thích: A. y cứ nơi pháp: 1) dứt sạch các chướng không hư dối gọi là thần chú. 2) trí soi rõ không mê mờ gọi là minh chú. 3) không tạo thêm lỗi lầm gọi là vô thượng chú 4) độc nhứt không chi sánh bằng gọi là chú vô đẳng đẳng. B) Chú phỏng theo 4 công năng như sau: 1. năng phá trừ phiền não 2. năng phá vô minh 3. khiến nhân hạnh viên mãn 4. làm cho quả đức viên thành. C). y cứ quả vị giải thích: 1) hơn phàm phu 2) vượt Tiểu Thừa 3) nhân siêu việt 4) quả xứng đáng, có nghĩa là vị hỗ tương đồng không chi sánh ví cho nên nói vô đẳng đẳng.

Thập Địa luận rằng, vô đẳng có nghĩa là Phật ví chúng sanh với Ngài chẳng thể so sánh kịp. Lặp lại chữ “đẳng” là so chúng sanh với pháp thân Phật, cớ gì lại nói không sánh ví chứ?

- Tán thán chung Bát Nhã: Phật hiện đẳng chánh giác nên có khả năng trừ sạch mọi sự khổ chân thật không hư. Khổ gồm có 3 khổ, tám khổ và hết thảy mọi sự khổ. Ngoài ra có phần đoạn, biến dịch sanh tử cũng còn gọi là tất cả khổ vậy. Trừ dứt khổ chắc chắn nên nói là chân thật không hư. Trở lên hai điểm rộng hẹp hay chung riêng bất đồng mà mục đích là hiển lộ cứu cánh bát nhã cho nên Phật thuyết chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, liền nói chú rằng… Từ đây trở xuống là đoạn 2 nêu rõ sức bí yếu Bát nhã, có 2 ý: a) Lặp lại trước để tiếp sau b) thuyết lời thần chú a) Lặp lại những điểm trước để tiếp theo sau, như trên nói là đại thần chú, chưa rõ lời chú ấy ra sao nên giờ đây mới thuyết câu chú. b. Thuyết lời thần chú: yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha… vượt thoát, vượt thoát, mau mau vượt thoát, nhanh lên vượt thoát, vượt qua bờ giác sá ha ! Trong câu chú này có hai nghĩa: a) không thể giải thích được, vì là lời mật ngữ của chư Phật, không thể nào người phàm phu hiểu được, chỉ nên trì tụng dứt trừ nghiệp chướng để gia tăng phước nên cũng chẳng cần miễn cưỡng giải thích b) Nếu muốn gượng giải thích sẽ như sau: yết đế dịch là đi qua hay độ, tức nói đến công năng trí tuệ sâu sắc. Lập lại hai lần yết đế có nghĩa là tự độ và độ người, ba la yết đế, ba la dịch là bỉ ngạn tức là đạt đến nơi chốn, ba la tăng yết đế, tăng nghĩa là chung hay cũng gọi là phước (vướng) và có nghĩa là tự tha vượt qua vướng buộc cùng đến bờ kia. Nói Bồ Đề tới bờ kia là đâu, có nghĩa là nơi đại giác vậy. Nói Tát bà ha dịch là nhanh chóng làm cho chỗ làm trước sớm thành tựu vậy. Sau đây tạm dịch bài tuyệt bút cảm hoài kinh Bát Nhã:

Bát Nhã vô tận

Ưùc kiếp khó gần

Tán thán tùy phần

Lãnh hội chân tông

Pháp sư Pháp Tạng lược giải tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa ở chùa Thanh Thiền tại kinh đô Trường An năm thứ hai, kinh dịch lúc thanh thản, cùng với bộ lễ kiêm hiệu Trưởng Ty là Vinh Dương – Trịnh Công Uõng Châu, lòng trung hiếu, tánh giản dị, như lá ngọc cành vàng hương phưởng phất. Chín lần in khắc trọng gởi ba vua, lời tựa của Dực Nghĩa Triều pháp thành tâm. Mới đầu từ tóc xanh rồi dần ngày càng đầu bạc (tóc bạc) trì tụng Tâm Kinh này đến cả 100,000 lần, tâm dõi theo nghĩa mầu, miệng tụng thần văn. Lại ba lần cần cầu khiến đem kinh ra lược giải điểm cốt yếu cũng khó dò chỗ cao thâm lắm thay !

 

Tựa tán thán Tâm Kinh Bát Nhã

Trương Thuyết tuyển chọn

Vạn pháp khởi do tâm, tâm là chính của con người. Ba thừa qui về một. 1) Tôn của pháp, biết tâm vô sở đắc là thật đắc, thấy một cái không chẳng thông là huyền thông. Như Lai nói năm uẩn đều không, con người vốn không. Như Lai nói các pháp không tướng, pháp cũng không vậy. Biết pháp soi sáng không thấy không bèn bỏ pháp. 2) Thấy biết lại chẳng là không sao? Vì thế, Định và Huệ đều trong pháp không. Vào được môn này là vào cửa sáng, đi con đường này là siêu lộ. Há không phải người thực hành sâu Bát Nhã mà có thể thân chứng được pháp này sao? Bí thư thiếu lam phò mã đô úy Vinh Dương, Trịnh Vạn Câu là kẻ sĩ uyên thâm, tài học thông bác dịch thành Thánh điển, như rượu rót rưới tay Hàn khắc tâm kinh. Bọn nhà giàu của cây Thánh thiện mong kết quả ở tương lai. Phật do không nương tướng mà thuyết pháp vốn chẳng sanh, do vô sở đắc mà truyền lại ngày nay bất diệt, đạo còn lại nơi văn tự. Ý còn, trời mất, nước thoái, thuyết hưng nghe để gia tâm.

 

Tán dương Phật sự bản khắc đề danh

 xem tiếp

---o0o---


Vi tính: Giác Anh
Trình bày: Tịnh Tuệ

Cập nhật: 01-01-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Kinh Điển

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544