A Di Đà Phật Thánh Điển

IV. Quả địa thù thắng chương (果地殊勝章)

trước
tiếp

 Sự thành tựu trong cõi Phật ấy chính là quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng, công đức vô lượng, trang nghiêm vô lượng, an lạc vô lượng, thù thắng vô lượng, là cõi bậc nhất trong các cõi nước. Hết thảy các thế giới đều chẳng thể sánh bằng. [Cõi ấy] được chư Phật khen ngợi, các kinh tán thán, thù thắng, mầu nhiệm vượt trỗi tuyệt vời, chẳng thể cùng cực. Những điều được kể nói trong chương này chưa được một phần trong bất khả thuyết phần vậy. Những điều nêu bày như thế chỉ là nói đại lược đó thôi!

 

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Thọ Mạng Phẩm – Đông Tấn Thiên Trúc Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La dịch

(大方廣佛華嚴經壽命品 – 東晉天竺三藏佛馱跋陀羅譯)

 

          Nhĩ thời Tâm Vương Bồ Tát Ma Ha Tát cáo chư Bồ Tát ngôn: Phật tử! Như thử Sa Bà thế giới Thích Ca Như Lai Phật sát nhất kiếp, ư An Lạc thế giới A Di Đà Phật sát vi nhất nhật nhất dạ (CBETA, T09, no.278, p.589, c2-4).

          爾時心王菩薩摩訶薩告諸菩薩言。佛子。如此娑婆世界釋迦如來佛剎一劫。於安樂世界阿彌陀佛剎為一日一夜。

          (Lúc đó, Tâm Vương Bồ Tát Ma Ha Tát bảo các vị Bồ Tát rằng: “Phật tử! Một kiếp trong thế giới Sa Bà này, tức là cõi Phật của Thích Ca Như Lai, sẽ là một ngày một đêm trong thế giới An Lạc, tức là cõi nước của A Di Đà Phật”).

 

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Nhập Pháp Giới Phẩm – Đông Tấn Thiên Trúc Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La dịch

(大方廣佛華嚴經入法界品 –東晉天竺三藏佛馱跋陀羅譯)

         

          Hoặc kiến A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, quán đảnh thọ ký giả, sung mãn chư pháp giới (CBETA, T09, no.278, p.786, b11-12).

          或見阿彌陀、觀世音菩薩、灌頂受記者,充滿諸法界。

          (Hoặc thấy A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát quán đảnh, thọ ký, đầy ắp các pháp giới).

 

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Thọ Lượng Phẩm – Thật Xoa Nan Đà dịch

(大方廣佛華嚴經壽量品 – 實叉難陀譯)

 

          Thử Sa Bà thế giới Thích Ca Mâu Ni Phật sát nhất kiếp, ư Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật sát vi nhất nhật nhất dạ (CBETA, T10, no.279, p.241, a18-19).

          此娑婆世界釋迦牟尼佛剎一劫,於極樂世界阿彌陀佛剎為一日一夜。

          (Một kiếp trong thế giới Sa Bà này, tức cõi nước của Thích Ca Mâu Ni Phật, là một ngày một đêm trong thế giới Cực Lạc, tức cõi nước của A Di Đà Phật).

 

* Hiển Vô Biên Phật Độ Công Đức Kinh

(顯無邊佛土功德經)

 

          Phật ngôn: Thiện nam tử! Ngã thử Sách Ha thế giới Thích Ca Mâu Ni Phật độ nhất kiếp, ư Cực Lạc thế giới Vô Lượng Quang Phật độ vi nhất trú dạ (CBETA, T10, no.289, p.591, c20-22).

          佛言。善男子。我此索訶世界釋迦牟尼佛土一劫。於極樂世界無量光佛土為一晝夜。

          (Phật nói: “Này thiện nam tử! Một kiếp trong thế giới Sách Ha (Sa Bà) này, tức là cõi nước của Thích Ca Mâu Ni Phật, sẽ là một ngày một đêm trong thế giới Cực Lạc tức cõi nước của Vô Lượng Quang Phật”).

 

Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh Kinh

(文殊師利佛土嚴凈經)

 

          Nhĩ thời, hội trung chư Bồ Tát chúng các tâm niệm ngôn: “Như Phật tư ta Văn Thù Sư Lợi thành Phật quốc thời, công huân nghiêm tịnh, hà như Tây Phương An Dưỡng thế giới Vô Lượng Thọ Phật nghiêm tịnh đẳng phủ?” Phật cáo Sư Tử Bộ Lôi Âm Bồ Tát ngôn: “Ninh tằng kiến văn Vô Lượng Thọ Phật quốc trung Bồ Tát, Thanh Văn chúng phủ?” Đáp viết: “Dụy nhiên! Diệc kiến, diệc văn”. Phật ngôn “Vi đa thiểu hồ?” Đáp viết: “Bất khả tư nghị, bất khả xưng hạn” (CBETA, T11, no.318).

          爾時會中諸菩薩眾各心念言。如佛咨嗟文殊師利成佛國時。功薰嚴凈。何如西方安養世界無量壽佛嚴凈等否。佛告師子步雷音菩薩言。寧曾見聞無量壽佛國中菩薩聲聞眾不。答曰。唯然。亦見亦聞。佛言。為多少乎。答曰。不可思議。不可稱限。

          (Lúc bấy giờ, các vị Bồ Tát trong hội, ai nấy nghĩ thầm: “Như đức Phật tấm tắc [khen ngợi] cõi nước của ngài Văn Thù Sư Lợi khi Ngài thành Phật, vậy thì có trang nghiêm, thanh tịnh như thế giới An Dưỡng ở phương Tây của Vô Lượng Thọ Phật hay chăng?” Đức Phật bảo Sư Tử Bộ Lôi Âm Bồ Tát rằng: “Há chẳng thấy các hàng Bồ Tát và Thanh Văn trong cõi nước của Vô Lượng Thọ Phật hay sao?” Thưa: “Vâng ạ! Con cũng thấy, cũng nghe”. Đức Phật nói: “Là nhiều hay ít vậy?” Thưa rằng: “Chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể nói trọn chừng hạn”).

 

Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh, Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội Phần

(大方等大集經菩薩念佛三昧分)

 

          Nhất thiết giai thọ thượng diệu xúc lạc, do như Đông phương Bất Động thế giới, diệc như Tây phương An Lạc quốc độ. Kỳ trung chúng sanh, đẳng thọ khoái lạc, văn thanh hoạch an, diệc phục như thị. Thị Phật nhân trung tối đệ nhất. Như bỉ điều ngự A Di Đà, vị cầu an lạc chư chúng sanh, cúng dường vô lượng vô biên Phật, đương đắc thành Phật đại danh xưng. Bỉ sát trang nghiêm nan tư nghị. Tẫn thị chúng bảo nhân nhạo quán, do như an lạc thù quảng đại (CBETA, T13, no.415).

          一切皆受上妙觸樂。猶如東方不動世界。亦如西方安樂國土。其中眾生。等受快樂。聞聲獲安。亦復如是。是佛人中最第一。如彼調御阿彌陀。為求安樂諸眾生。供養無量無邊佛。當得成佛大名稱。彼剎莊嚴難思議。儘是眾寶人樂觀。猶如安樂殊廣大。

          (Hết thảy đều hưởng niềm vui do sự đụng chạm thượng diệu, giống như trong thế giới Bất Động ở phương Đông, cũng như trong cõi nước An Lạc của phương Tây. Chúng sanh trong ấy bình đẳng hưởng sự sung sướng, do nghe tiếng bèn được an ổn cũng giống như thế. Vị Phật ấy đúng là bậc nhất trong loài người. Như đấng Điều Ngự A Di Đà vì cầu an lạc cho các chúng sanh mà cúng dường vô lượng, vô biên Phật, sẽ thành Phật, có danh xưng to lớn. Cõi ấy trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, toàn là [hợp thành] từ các thứ báu mà mọi người đều thích nhìn ngắm, giống như sự rộng lớn lạ lùng của cõi An Lạc).

 

Vô Lượng Thọ Kinh

(無量壽經)

         

          Kỳ Phật quốc độ tự nhiên thất bảo, kim, ngân, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, hợp thành vi địa, khôi khuếch khoáng đãng, bất khả hạn cực, tất tương tạp xí, chuyển tương nhập gian, quang hách hỗn diệu, vi diệu kỳ lệ, thanh tịnh trang nghiêm, siêu du thập phương. Nhất thiết thế giới, chúng bảo trung tinh. Kỳ bảo do như Đệ Lục Thiên bảo…

          Hựu kỳ quốc độ, vô Tu Di sơn, cập Kim Cang, Thiết Vi, nhất thiết chư sơn. Diệc vô đại hải, tiểu hải, khê, cừ, tỉnh, cốc. Phật thần lực cố, dục kiến tắc kiến. Diệc vô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chư nạn chi thú. Diệc vô tứ thời Xuân, Thu, Đông, Hạ, bất hàn, bất nhiệt, thường hòa điều thích…

          Hựu kỳ quốc độ, thất bảo chư thụ, châu mãn thế giới. Kim thụ, ngân thụ, lưu ly thụ, pha lê thụ, san hô thụ, mã não thụ, xa cừ thụ. Hoặc hữu nhị bảo, tam bảo, nãi chí thất bảo, chuyển cộng hợp thành… Hàng hàng tương trị, hành hành tương vọng, chi chi tương chuẩn, diệp diệp tương hướng, hoa hoa tương thuận, thật thật tương đương, vinh sắc quang diệu, bất khả thắng thị. Thanh phong thời phát, xuất ngũ âm thanh, vi diệu cung thương, tự nhiên tương hòa.

          Hựu Vô Lượng Thọ Phật, kỳ đạo tràng thụ, cao tứ bách vạn lý. Kỳ bổn châu vi, ngũ thiên do-tuần, chi diệp tứ bố, nhị thập vạn lý, nhất thiết chúng bảo, tự nhiên hợp thành. Dĩ Nguyệt Quang Ma Ni Trì Hải Luân bảo, chúng bảo chi vương, nhi trang nghiêm chi. Châu táp điều gian, chúng bảo anh lạc, bách thiên vạn sắc, chủng chủng dị biến. Vô lượng quang viêm, chiếu diệu vô cực, trân diệu bảo võng, la phú kỳ thượng. Nhất thiết trang nghiêm, tùy ứng nhi hiện. Vi phong từ động, xuất diệu pháp âm, phổ lưu thập phương, nhất thiết Phật quốc. Kỳ văn âm giả, đắc thâm Pháp Nhẫn, trụ bất thoái chuyển, chí thành Phật đạo, bất tao khổ hoạn. Mục đổ kỳ sắc, nhĩ văn kỳ âm, tỵ tri kỳ hương, thiệt thường kỳ vị, thân xúc kỳ quang, tâm dĩ pháp duyên, nhất thiết giai đắc thậm thâm Pháp Nhẫn, trụ bất thoái chuyển, chí thành Phật đạo, lục căn thanh triệt, vô chư não hoạn. Nhược bỉ quốc nhân thiên, kiến thử thụ giả, đắctam Pháp Nhẫn. Nhất giả Âm Hưởng Nhẫn, nhị giả Nhu Thuận Nhẫn, tam giả Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thử giai Vô Lượng Thọ Phật oai thần lực cố, bổn nguyện lực cố, mãn túc nguyện cố, minh liễu nguyện cố, kiên cố nguyện cố, cứu cánh nguyện cố.

          Phật cáo A Nan: – Thế gian đế vương, hữu bách thiên âm nhạc. Tự Chuyển Luân Thánh Vương nãi chí Đệ Lục Thiên thượng, kỹ nhạc âm thanh, triển chuyển tương thắng, thiên ức vạn bội. Đệ Lục Thiên thượng vạn chủng nhạc âm, bất như Vô Lượng Thọ quốc, chư thất bảo thụ nhất chủng âm thanh thiên ức bội dã. Diệc hữu tự nhiên vạn chủng kỹ nhạc. Hựu kỳ nhạc thanh, vô phi pháp âm, thanh sướng ai lượng, vi diệu hòa nhã. Thập phương thế giới, âm thanh chi trung, tối vi đệ nhất.

          Hựu giảng đường, tinh xá, cung, điện, lâu, quán, giai thất bảo trang nghiêm, tự nhiên hóa thành. Phục dĩ chân châu, minh nguyệt ma-ni chúng bảo, dĩ vi giao lạc, phú cái kỳ thượng. Nội ngoại tả hữu, hữu chư dục trì, hoặc thập do-tuần, hoặc nhị thập, tam thập, nãi chí bách thiên do-tuần, tung quảng thâm thiển, giai các nhất đẳng. Bát công đức thủy, trạm nhiên doanh mãn, thanh tịnh hương khiết, vị như cam lộ. Hoàng kim trì giả, để bạch ngân sa. Bạch ngân trì giả, để hoàng kim sa. Thủy tinh trì giả, để lưu ly sa. Lưu ly trì giả, để thủy tinh sa. San hô trì giả, để hổ phách sa. Hổ phách trì giả, để san hô sa. Xa cừ trì giả, để mã não sa. Mã não trì giả, để xa cừ sa. Bạch ngọc trì giả, để tử kim sa. Tử kim trì giả, để bạch ngọc sa. Hoặc nhị bảo, tam bảo, nãi chí thất bảo, chuyển cộng hợp thành. Kỳ trì ngạn thượng, hữu Chiên Đàn thụ. Hoa diệp thùy bố, hương khí phổ huân. Thiên ưu bát la hoa, bát đàm ma hoa, câu vật đầu hoa, phân đà lợi hoa, tạp sắc quang mậu, di phú thủy thượng.

          Bỉ chư Bồ Tát, cập Thanh Văn chúng, nhược nhập bảo trì, ý dục linh thủy một túc, thủy tức một túc. Dục linh chí tất, tức chí ư tất. Dục linh chí yêu, thủy tức chí yêu. Dục linh chí cảnh, thủy tức chí cảnh. Dục linh quán thân, tự nhiên quán thân. Dục linh hoàn phục, thủy triếp hoàn phục. Điều hòa lãnh noãn, tự nhiên tùy ý. Khai thần duyệt thể, đãng trừ tâm cấu. Thanh minh trừng khiết. Tịnh nhược vô hình. Bảo sa ánh triệt, vô thâm bất chiếu. Vi lan hồi lưu, chuyển tương quán chú, an tường từ thệ, bất trì, bất tật. Ba dương vô lượng, tự nhiên diệu thanh, tùy kỳ sở ứng, mạc bất văn giả. Hoặc văn Phật thanh, hoặc văn Pháp thanh, hoặc văn Tăng thanh, hoặc tịch tĩnh thanh, Không Vô Ngã thanh, đại từ bi thanh, Ba La Mật thanh, hoặc Thập Lực, vô úy, bất cộng pháp thanh, chư thông huệ thanh, vô sở tác thanh, bất khởi diệt thanh, Vô Sanh Nhẫn thanh, nãi chí Cam Lộ Quán Đảnh chúng diệu pháp thanh. Như thị đẳng thanh, xứng kỳ sở văn, hoan hỷ vô lượng. Tùy thuận thanh tịnh ly dục tịch diệt chân thật chi nghĩa. Tùy thuận Tam Bảo lực vô sở úy bất cộng chi pháp. Tùy thuận thông huệ Bồ Tát Thanh Văn sở hành chi đạo. Vô hữu tam đồ khổ nạn chi danh, đản hữu tự nhiên khoái lạc chi âm. Thị cố kỳ quốc, danh viết Cực Lạc.

                Phật ngữ A Nan: – Vô Lượng Thọ Phật, vị chư Thanh Văn, Bồ Tát, thiên, nhân ban tuyên pháp thời, đô tất tập hội thất bảo giảng đường, quảng tuyên đạo giáo, diễn sướng diệu pháp, mạc bất hoan hỷ, tâm giải đắc đạo. Tức thời tứ phương, tự nhiên phong khởi, xuy thất bảo thụ, xuất ngũ âm thanh. Vô lượng diệu hoa, tùy phong tứ tán, tự nhiên cúng dường, như thị bất tuyệt. Nhất thiết chư thiên, giai tê thiên thượng bách thiên hoa hương, vạn chủng kỹ nhạc, cúng dường kỳ Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn, đại chúng, phổ tán hoa hương, tấu chư âm nhạc. Tiền hậu lai vãng, cánh tương khai tỵ. Đương tư chi thời, hy di khoái lạc, bất khả thắng ngôn (CBETA, T12, no.360, p.270).

          其佛國土自然七寶。金、銀、琉璃、珊瑚、琥珀、硨磲、瑪瑙。合成為地。恢廓曠盪。不可限極。悉相雜廁。轉相入間。光赫焜耀。微妙奇麗。清凈莊嚴。超踰十方。一切世界。眾寶中精。其寶猶如第六天寶。又其國土。無須彌山。及金剛鐵圍一切諸山。亦無大海小海溪渠井谷。佛神力故。欲見則見。亦無地獄餓鬼畜生諸難之趣。亦無四時春秋冬夏。不寒不熱。常和調適。又其國土。七寶諸樹。周滿世界。金樹、銀樹、琉璃樹、玻瓈樹、珊瑚樹、碼瑙樹、硨磲樹。或有二寶三寶。乃至七寶。轉共合成。行行相值。莖莖相望。枝枝相准。葉葉相向。華華相順。實實相當。榮色光曜。不可勝視。清風時發。出五音聲。微妙宮商。自然相和。又無量壽佛。其道場樹。高四百萬里。其本周圍。五千由旬。枝葉四布。二十萬里。一切眾寶。自然合成。以月光摩尼持海輪寶。眾寶之王。而莊嚴之。周匝條間。垂寶瓔珞。百千萬色。種種異變。無量光炎。照曜無極。珍妙寶網。羅覆其上。一切莊嚴。隨應而現。微風徐動。出妙法音。普流十方。一切佛國。其聞音者。得深法忍。住不退轉。至成佛道。不遭苦患。目睹其色。耳聞其音。鼻知其香。舌嘗其味。身觸其光。心以法緣。一切皆得甚深法忍。住不退轉。至成佛道。六根清徹。無諸惱患。若彼國人天。見此樹者得三法忍。一者音響忍。二者柔順忍。三者無生法忍。此皆無量壽佛威神力故。本願力故。滿足願故。明了願故。堅固願故。究竟願故。

          佛告阿難。世間帝王。有百千音樂。自轉輪聖王乃至第六天上。伎樂音聲。展轉相勝。千億萬倍。第六天上萬種樂音。不如無量壽國。諸七寶樹一種音聲千億倍也。亦有自然萬種伎樂。又其樂聲。無非法音。清暢哀亮。微妙和雅。十方世界。音聲之中。最為第一。又講堂精舍。宮殿樓觀。皆七寶莊嚴。自然化成。復以真珠明月摩尼眾寶。以為交絡。覆蓋其上。內外左右。有諸浴池。或十由旬。或二十三十。乃至百千由旬。縱廣深淺。皆各一等。八功德水。湛然盈滿。清凈香潔。味如甘露。黃金池者。底白銀沙。白銀池者。底黃金沙。水精池者。底琉璃沙。琉璃池者。底水精沙。珊瑚池者。底琥珀沙。琥珀池者。底珊瑚沙。硨磲池者。底碼瑙沙。碼瑙池者。底硨磲沙。白玉池者。底紫金沙。紫金池者。底白玉沙。或二寶三寶乃至。七寶。轉共合成。其池岸上。有栴檀樹。華葉垂布。香氣普熏。天優缽羅華。缽曇摩華。拘物頭華。分陀利華。雜色光茂。彌覆水上。彼諸菩薩。及聲聞眾。若入寶池。意欲令水沒足。水即沒足。欲令至膝。即至於膝。欲令至腰。水即至腰。欲令至頸。水即至頸。欲令灌身。自然灌身。欲令還復。水輒還復。調和冷暖。自然隨意。開神悅體。盪除心垢。清明澄潔。凈若無形。寶沙映徹。無深不照。微瀾迴流。轉相灌注。安詳徐逝。不遲不疾。波揚無量。自然妙聲。隨其所應。莫不聞者。或聞佛聲。或聞法聲。或聞僧聲。或寂靜聲。空無我聲。大慈悲聲。波羅蜜聲。或十力無畏。不共法聲。諸通慧聲。無所作聲。不起滅聲。無生忍聲。乃至甘露灌頂眾妙法聲。如是等聲。稱其所聞。歡喜無量。隨順清凈離欲寂滅真實之義。隨順三寶力無所畏不共之法。隨順通慧菩薩聲聞所行之道。無有三塗苦難之名。但有自然快樂之音。是故其國。名曰極樂。

          佛語阿難。無量壽佛。為諸聲聞菩薩天人班宣法時。都悉集會七寶講堂。廣宣道教。演暢妙法。莫不歡喜。心解得道。即時四方。自然風起。吹七寶樹。出五音聲。無量妙華。隨風四散。自然供養。如是不絕。一切諸天。皆齎天上百千華香。萬種伎樂。供養其佛。及諸菩薩聲聞大眾。普散華香。奏諸音樂。前後來往。更相開避。當斯之時。熙怡快樂。不可勝言。

          (Cõi nước Phật ấy tự nhiên bảy báu, vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, hợp thành đất, mênh mông, bát ngát, chẳng thể có ngằn hạn. [Những thứ báu ấy] thảy đều đặt xen kẽ, hòa lẫn vào nhau, sáng ngời chói rực lẫn nhau, vi diệu, đẹp đẽ lạ lùng, thanh tịnh, trang nghiêm, vượt trỗi hết thảy các thế giới trong mười phương, là tinh túy của các thứ báu. Món báu ấy giống như của báu trên tầng trời thứ sáu. Lại nữa, cõi nước ấy không có núi Tu Di, núi Kim Cang, núi Thiết Vi, và hết thảy các núi. Cũng không có biển lớn, biển nhỏ, khe, ngòi, suối, hang. Do thần lực của Phật, ai muốn thấy thì sẽ thấy. Cũng không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, các đường khổ nạn. Cũng chẳng có bốn mùa Xuân, Thu, Đông, Hạ, chẳng lạnh, chẳng nóng, [khí hậu] thường điều hòa, vừa phải….

          Lại nữa, trong cõi nước ấy, các cây bằng bảy báu trọn khắp thế giới. Cây vàng, cây bạc, cây lưu ly, cây pha lê, cây san hô, cây mã não, cây xa cừ. Hoặc có cây bằng hai chất báu, ba chất báu, cho đến bảy chất báu, lần lượt cùng hợp thành… Các hàng cây đều nhau, từng thân cây đối xứng, từng cành đều ngang bằng, từng lá đều hướng vào nhau, từng hoa đều thuận với nhau, từng trái đều tương đương nhau, màu sắc tươi thắm, chói ngời, chẳng thể nhìn trọn. Gió mát đúng thời nổi lên, [thổi qua hàng cây] phát ra tiếng ngũ âm, các nhịp cung, thương vi diệu, tự nhiên hòa hợp.

          Lại nữa, cây đạo tràng của Vô Lượng Thọ Phật cao bốn trăm vạn dặm. Gốc của nó có chu vi là năm ngàn do-tuần, cành lá xòe ra bốn phía, rộng hai mươi vạn dặm, do hết thảy các thứ báu tự nhiên hợp thành. Dùng chất báu Nguyệt Quang Ma Ni Trì Hải Luân là vua trong các chất báu để trang hoàng. Chung quanh khoảng giữa các cành nhánh, treo rủ những chuỗi anh lạc bằng các thứ báu, trăm ngàn vạn sắc, đủ loại biến hóa lạ lùng. Vô lượng tia sáng rực rỡ chiếu ngời chẳng có ngằn hạn. Lưới báu quý giá, đẹp đẽ che phủ bên trên. Hết thảy sự trang nghiêm ứng hiện theo ý muốn. Gió nhẹ thong thả thổi, vang ra pháp âm mầu nhiệm, truyền khắp mười phương. Trong hết thảy các cõi Phật, những kẻ nghe âm thanh ấy, đều đắc Pháp Nhẫn sâu xa, trụ Bất ThoáiChuyển, cho đến khi thành Phật đạo, chẳng bị khổ sở, hoạn nạn. Mắt thấy hình sắc của cây, tai nghe âm thanh, mũi biết mùi hương, lưỡi nếm vị nó, thân chạm ánh sáng của nó, tâm duyên theo pháp, hết thảy đều được Pháp Nhẫn rất sâu, trụ Bất Thoái Chuyển. Cho đến khi thành Phật đạo, sáu căn thông sáng, không bị các não hoạn. Nếu trời, người trong cõi ấy, thấy cây ấy, sẽ đắc ba món Pháp Nhẫn, một là Âm Hưởng Nhẫn, hai là Nhu Thuận Nhẫn, ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Những điều ấy đều do sức oai thần, do sức bổn nguyện, do nguyện trọn đủ, do nguyện rõ ràng, do nguyện kiên cố, do nguyện rốt ráo của Vô Lượng Thọ Phật.

          Đức Phật bảo A Nan:

          – Đế vương trong thế gian có trăm ngàn thứ âm nhạc. Từ Chuyển Luân Thánh Vương cho đến trên tầng trời thứ sáu, âm thanh kỹ nhạc lần lượt [mỗi tầng trên] hay hơn [âm nhạc trong tầng ngay dưới đó] ngàn ức vạn lần. Muôn thứ âm nhạc trên tầng trời thứ sáu chẳng bằng được một phần ngàn ức vạn lần của một thứ âm thanh từ các cây bảy báu trong cõi Vô Lượng Thọ. Cũng có muôn thứ kỹ nhạc tự nhiên. Hơn nữa, các tiếng nhạc ấy không gì chẳng phải là pháp âm, trong trẻo, du dương, thánh thót, êm dịu, vi diệu, hòa nhã. Đúng là bậc nhất trong các âm thanh của mười phương thế giới.

          Lại nữa, giảng đường, tinh xá, cung, điện, lầu, đài, đều trang nghiêm bằng bảy báu, tự nhiên hóa thành. Lại dùng các thứ báu chân châu, minh nguyệt ma-ni để giăng mắc, che phủ bên trên. Trong, ngoài, trái, phải, có các ao tắm, hoặc rộng mười do-tuần, hoặc hai mươi, ba mươi, cho đến trăm ngàn do-tuần, ngang, dọc, cạn, sâu đều cùng một cỡ như nhau. Nước tám công đức trong lặng, đầy ắp, thanh tịnh, thơm tho, tinh khiết, vị như cam lộ. Ao bằng vàng ròng, đáy trải cát bạc trắng. Ao bạc trắng, đáy trải cát vàng ròng. Ao thủy tinh, đáy trải cát lưu ly. Ao lưu ly, đáy trải cát thủy tinh. Ao san hô, đáy trải cát hổ phách. Ao hổ phách, đáy trải cát san hô. Ao xa cừ, đáy trải cát mã não. Ao mã não, đáy trải cát xa cừ. Ao bạch ngọc, đáy trải cát vàng tía. Ao vàng tía, đáy trải cát bạch ngọc. Hoặc hai món báu, ba món báu, cho đến bảy món báu, lần lượt cùng kết hợp thành. Bên trên bờ ao, có cây Chiên Đàn. Hoa lá xòe rủ, mùi thơm xông khắp. Hoa Ưu Bát La (Utpala, hoa sen xanh), hoa Bát Đàm Ma (Padma, hoa sen đỏ), hoa Câu Vật Đầu (Kumuda, hoa sen vàng), hoa Phân Đà Lợi (Puṇḍarika, hoa sen trắng) cõi trời, nhiều màu rạng rỡ, tươi tốt, che phủ mặt nước.

          Các vị Bồ Tát và hàng Thanh Văn nếu vào ao báu, ý muốn nước ngập chân, nước liền ngập chân. Muốn nước đến gối, nước liền dâng đến gối. Muốn ngập đến eo, nước liền dâng ngập eo. Muốn ngập đến cổ, nước liền dâng đến cổ. Muốn nước xối thân, tự nhiên sẽ xối thân. Muốn nước trở lại như cũ, nước liền trở lại. [Nhiệt độ nước] nóng lạnh vừa phải, tự nhiên tùy ý. Thoải mái tinh thần, khoan khoái thân thể, gột trừ cấu nhơ trong tâm, trong trẻo, lắng sạch, thanh tịnh dường như vô hình. Cát báu chói ngời qua nước, dẫu sâu đến đâu vẫn soi thấu. Sóng gợn lan tròn, tưới rót lẫn nhau, an tường thong thả lan ra, chẳng chậm, chẳng nhanh. Sóng vỗ vang ra vô lượng âm thanh mầu nhiệm tự nhiên ứng theo ý thích, không ai chẳng nghe tiếng. Hoặc nghe tiếng Phật, hoặc nghe tiếng Pháp, hoặc nghe tiếng Tăng, hoặc tiếng tịch tĩnh, tiếng Không, Vô Ngã, tiếng đại từ bi, tiếng Ba La Mật, hoặc tiếng thập lực vô úy, bất cộng pháp, tiếng các thông huệ, tiếng vô sở tác, tiếng bất khởi diệt, tiếng Vô Sanh Nhẫn, cho đến tiếng Cam Lộ Quán Đảnh và các âm thanh mầu nhiệm khác. Những âm thanh như vậy xứng ý người nghe, [khiến cho họ nghe xong] hoan hỷ vô lượng, tùy thuận nghĩa lý chân thật “thanh tịnh, ly dục, tịch diệt”, tùy thuận sức Tam Bảo không sợ hãi, các pháp bất cộng, tùy thuận đạo do bậc Bồ Tát và Thanh Văn thông huệ đã hành. Chẳng có cái tên tam đồ khổ nạn, chỉ có âm thanh vui sướng tự nhiên. Vì thế, cõi ấy có tên là Cực Lạc.

          Đức Phật bảo A Nan:

          – Khi Vô Lượng Thọ Phật ban bố, tuyên nói pháp cho các vị Thanh Văn, Bồ Tát, trời, người, họ đều nhóm họp trong giảng đường bằng bảy báu. [Đức Phật] rộng tuyên đạo giáo, diễn nói pháp mầu thông suốt, không ai chẳng hoan hỷ, tâm khai giải, đắc đạo. Ngay lúc đó, từ bốn phương, tự nhiên có gió trỗi lên, lùa qua các cây báu, vang ra tiếng ngũ âm. Vô lượng hoa mầu nhiệm, theo gió rải rắc bốn phương, tự nhiên cúng dường chẳng dứt như thế. Hết thảy chư thiên đều cầm trăm ngàn thứ hoa hương trên cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường đức Phật ấy, và các Bồ Tát, Thanh Văn, đại chúng, rắc hoa hương khắp nơi, tấu các loại âm nhạc. Trước sau qua lại, lần lượt đến đi. Ngay trong lúc ấy, khoan khoái, vui sướng, chẳng thể kể xiết).

 

* Đại Bảo Tích Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai hội (CBETA, T11, no.310, p.91)

(大寶積經無量壽如來會)

 

* Phật Thuyết Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (CBETA, T12, no.361, p.279)

(佛說無量清凈平等覺經)

 

* Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh (CBETA, T12, no.362, p.300)

(佛說阿彌陀三耶三佛薩樓佛檀過度人道經)

 

* Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (CBETA, T12, no.363, p.318)

(佛說大乘無量壽莊嚴經)

 

* Phật Thuyết Đại A Di Đà Kinh (CBETA, T12, no.364, p.326)

(佛說大阿彌陀經)

 

          Những kinh trên đây đã nói rất nhiều, nhưng đại khái cũng giống như kinh Vô Lượng Thọ.

 

* Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh

(稱讚凈土佛攝受經)

 

          Hựu Xá Lợi Tử! Hà nhân hà duyên bỉ Phật thế giới, danh vi Cực Lạc? Xá Lợi Tử! Do bỉ giới trung chư hữu tình loại, vô hữu nhất thiết thân tâm ưu khổ, duy hữu vô lượng thanh tịnh hỷ lạc; thị cố, danh vi Cực Lạc thế giới…

          Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, xứ xứ giai hữu thất trùng hàng liệt diệu bảo lan thuẫn, thất trùng hàng liệt bảo Đa La thụ, cập hữu thất trùng diệu bảo la võng, châu táp vi nhiễu, tứ bảo trang nghiêm, kim bảo, ngân bảo, phệ-lưu-ly bảo, phả-chi-ca bảo, diệu sức gián ỷ…

          Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, xứ xứ giai hữu thất diệu bảo trì, bát công đức thủy, di mãn kỳ trung. Hà đẳng danh vi bát công đức thủy? Nhất giả trừng tịnh, nhị giả thanh lãnh, tam giả cam mỹ, tứ giả thanh nhuyễn, ngũ giả nhuận trạch, lục giả an hòa, thất giả ẩm thời trừ cơ khát đẳng vô lượng quá hoạn, bát giả ẩm dĩ định năng trưởng dưỡng chư căn tứ đại, tăng ích chủng chủng thù thắng thiện căn. Đa phước chúng sanh, thường nhạo thọ dụng. Thị chư bảo trì, để bố kim sa. Tứ diện châu táp, hữu tứ giai đạo, tứ bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Chư trì châu táp, hữu diệu bảo thụ, gián sức hàng liệt. Hương khí phân phức, thất bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Ngôn “thất bảo” giả, nhất kim, nhị ngân, tam phệ-lưu-ly, tứ phả-chi-ca, ngũ xích châu, lục A-thấp-ma-yết-lạp-bà bảo, thất Mưu-sa-lạc-yết-lạp-bà bảo. Thị chư trì trung, thường hữu chủng chủng tạp sắc liên hoa, lượng như xa luân, thanh sắc, thanh hiển, thanh quang, thanh ảnh. Hoàng sắc, hoàng hiển, hoàng quang, hoàng ảnh, xích sắc, xích hiển, xích quang, xích ảnh, bạch sắc, bạch hiển, bạch quang, bạch ảnh. Tứ hình, tứ hiển, tứ quang, tứ ảnh…

          Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, tự nhiên thường hữu vô lượng vô biên chúng diệu kỹ nhạc, âm khúc hòa nhã, thậm khả ái nhạo. Chư hữu tình loại, văn tư diệu âm, chư ác phiền não, tất giai tiêu diệt. Vô lượng thiện pháp, tiệm thứ tăng trưởng, tốc chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề… Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, châu biến đại địa, chân kim hợp thành. Kỳ xúc nhu nhuyễn, hương khiết quang minh, vô lượng vô biên, diệu bảo gián sức…

          Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, trú dạ lục thời thường vũ chủng chủng thượng diệu thiên hoa, quang trạch hương khiết, tế nhuyễn tạp sắc. Tuy linh kiến giả, thân tâm thích duyệt, nhi bất tham trước, tăng trưởng hữu tình vô lượng vô số bất khả tư nghị thù thắng công đức. Bỉ hữu tình loại, trú dạ lục thời, thường trì cúng dường Vô Lượng Thọ Phật. Mỗi thần triêu thời, trì thử thiên hoa, ư nhất thực khoảnh, phi chí tha phương vô lượng thế giới, cúng dường bách thiên câu-chi chư Phật. Ư chư Phật sở, các dĩ bách thiên câu-chi hoa thụ, trì tán cúng dường. Hoàn chí bổn xứ, du thiên trụ đẳng…

          Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, thường hữu chủng chủng kỳ diệu khả ái tạp sắc chúng điểu. Sở vị nga, nhạn, thu, lộ, hồng, hạc, khổng tước, anh vũ, yết-la-tần-ca, cộng mạng điểu đẳng. Như thị chúng điểu, trú dạ lục thời hằng cộng tập hội, xuất hòa nhã thanh, tùy kỳ loại âm, tuyên dương diệu pháp. Sở vị thậm thâm niệm trụ, chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác đạo chi đẳng, vô lượng diệu pháp. Bỉ độ chúng sanh, văn thị thanh dĩ, các đắc niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng vô lượng công đức, huân tu kỳ thân.

          Bỉ Xá Lợi Tử, ư ý vân hà? Bỉ độ chúng điểu, khởi thị bàng sanh ác thú nhiếp da? Vật tác thị kiến! Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật Tịnh Độ vô tam ác thú. Thượng bất văn hữu tam ác thú danh, hà huống hữu thật tội nghiệp sở chiêu bàng sanh chúng điểu? Đương tri giai thị Vô Lượng Thọ Phật biến hóa sở tác, linh kỳ tuyên sướng vô lượng pháp âm, tác chư hữu tình lợi ích an lạc…

          Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, thường hữu diệu phong, xuy chư bảo thụ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí xuất bách thiên câu-chi thiên nhạc, đồng thời câu tác, xuất vi diệu thanh, thậm khả ái ngoạn. Như thị bỉ độ thường hữu diệu phong, xuy chúng bảo thụ, cập bảo la võng, kích xuất chủng chủng vi diệu âm thanh, thuyết chủng chủng pháp. Bỉ độ chúng sanh, văn thị thanh dĩ, khởi Phật, Pháp, Tăng niệm tác ý đẳng vô lượng công đức… Do bỉ Như Lai cập chư hữu tình, thọ mạng vô lượng, vô số đại kiếp. Do thị duyên cố, bỉ độ Như Lai, danh Vô Lượng Thọ… Do bỉ Như Lai hằng phóng vô lượng vô biên diệu quang, biến chiếu nhất thiết thập phương quốc độ, thi hành Phật sự, vô hữu chướng ngại. Do thị duyên cố, bỉ độ Như Lai, danh Vô Lượng Quang…

          Vô Lượng Thọ Phật thường hữu vô lượng Thanh Văn đệ tử. Nhất thiết giai thị đại A La Hán, cụ túc chủng chủng vi diệu công đức. Kỳ lượng vô biên, bất khả xưng số… Vô Lượng Thọ Phật, thường hữu vô lượng Bồ Tát đệ tử. Nhất thiết giai thị Nhất Sanh Sở Hệ, cụ túc chủng chủng vi diệu công đức, kỳ lượng vô biên, bất khả xưng số. (CBETA, T12, no.367, p.348)

          又舍利子。何因何緣彼佛世界。名為極樂。舍利子。由彼界中諸有情類。無有一切身心憂苦。唯有無量清凈喜樂是故名為極樂世界。又舍利子。極樂世界凈佛土中。處處皆有七重行列妙寶欄楯。七重行列寶多羅樹。及有七重妙寶羅網。周匝圍繞。四寶莊嚴。金寶、銀寶、吠琉璃寶、頗胝迦寶,妙飾間綺。極樂世界凈佛土中。處處皆有七妙寶池。八功德水。彌滿其中。何等名為八功德水。一者澄凈。二者清冷。三者甘美。四者清軟。五者潤澤。六者安和。七者飲時除饑渴等無量過患。八者飲已定能長養諸根四大。增益種種殊勝善根。多福眾生。常樂受用。是諸寶池。底布金沙。四面周匝。有四階道,四寶莊嚴。甚可愛樂。諸池周匝。有妙寶樹。間飾行列。香氣芬馥。七寶莊嚴。甚可愛樂。言七寶者。一金。二銀。三吠琉璃。四頗胝迦。五赤真珠。六阿濕摩揭拉婆寶。七牟娑落揭拉婆寶。是諸池中。常有種種雜色蓮華。量如車輪。青色青顯青光青影。黃色黃顯黃光黃影。赤色赤顯赤光赤影。白色白顯白光白影。四形四顯四光四影。

          …極樂世界凈佛土中,自然常有無量無邊眾妙伎樂。音曲和雅。甚可愛樂。諸有情類。聞斯妙音。諸惡煩惱。悉皆消滅。無量善法。漸次增長。速證無上正等菩提。極樂世界凈佛土中。周遍大地。真金合成。其觸柔軟。香潔光明。無量無邊。妙寶間飾。極樂世界凈佛土中。晝夜六時常雨種種上妙天華。光澤香潔。細軟雜色。雖令見者。身心適悅。而不貪着。增長有情無量無數不可思議殊勝功德。彼有情類。晝夜六時。常持供養無量壽佛。每晨朝時。持此天華。於一食頃。飛至他方無量世界。供養百千俱胝諸佛。於諸佛所各以百千俱胝花樹。持散供養。還至本處。游天住等。極樂世界凈佛土中。常有種種奇妙可愛雜色眾鳥。所謂鵝、雁、鶖、鷺、鴻、鶴、孔雀、鸚鵡、羯羅、頻迦、共命鳥等。如是眾鳥。晝夜六時。恆共集會。出和雅聲。隨其類音。宣揚妙法。所謂甚深念住、正斷、神足、根、力、覺道支等。無量妙法。彼土眾生。聞是聲已。各得念佛、念法、念僧無量功德。薰修其身。彼舍利子。於意云何。彼土眾鳥。豈是傍生惡趣攝耶。勿作是見。所以者何。彼佛凈土。無三惡趣。尚不聞有三惡趣名。何況有實。罪業所招傍生眾鳥。當知皆是無量壽佛變化所作。令其宣暢無量法音。作諸有情利益安樂。

          …極樂世界凈佛土中,常有妙風。吹諸寶樹。及寶羅網。出微妙音。譬出百千俱胝天樂。同時俱作。出微妙聲。甚可愛玩。如是彼土常有妙風。吹眾寶樹。及寶羅網。擊出種種微妙音聲。說種種法。彼土眾生。聞是聲已。起佛法僧念作意等無量功德。由彼如來及諸有情,壽命無量。無數大劫。由是緣故。彼土如來。名無量壽。由彼如來恆放無量無邊妙光。遍照一切十方國土。施行佛事。無有障礙。由是緣故。彼土如來。名無量光。無量壽佛。常有無量聲聞弟子。一切皆是大阿羅漢。具足種種微妙功德。其量無邊。不可稱數。無量壽佛。常有無量菩薩弟子。一切皆是一生所系。具足種種微妙功德,其量無邊。不可稱數。

          (Lại này Xá Lợi Tử! Do nhân nào, duyên nào mà thế giới Phật ấy có tên là Cực Lạc? Xá Lợi Tử! Do các loài hữu tình trong thế giới ấy, chẳng có hết thảy những nỗi ưu khổ nơi thân tâm, chỉ có vô lượng hỷ lạc thanh tịnh. Do vậy, có tên là thế giới Cực Lạc…

          Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, chỗ nào cũng đều có bảy hàng lan can bằng chất báu mầu nhiệm, bảy hàng cây Đa La báu, và có bảy tầng lưới mành báumầu nhiệm, giáp vòng vây quanh, trang nghiêm bằng bốn thứ báu, tức vàng, bạc, báu phệ-lưu-ly (Vaidūrya), chất báu phả-chi-ca (Sphaṭika, pha lê), trang hoàng đẹp đẽ, xen kẽ…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, chỗ nào cũng đều có ao bằng bảy thứ báu mầu nhiệm. Nước tám công đức chứa đầy ắp trong đó. Vì sao có tên là “nước tám công đức”? Một là lắng sạch, hai là trong mát, ba là ngon ngọt, bốn là mềm mại, trong trẻo, năm là tươi nhuận, sáu là an hòa, bảy là khi uống vào có thể trừ bỏ những nỗi lo âu, nhọc nhằn như đói, khát v.v… Tám là uống vào chắc chắn sẽ có thể trưởng dưỡng các căn và Tứ Đại, tăng thêm các loại thiện căn thù thắng. Chúng sanh nhiều phước thường thích thọ dụng.

          Các ao báu ấy, đáy trải cát bằng vàng. Chung quanh bốn phía ao, có bốn bậc cấp, trang nghiêm bằng bốn báu, hết sức đáng yêu thích. Chung quanh các ao, có cây bằng chất báu mầu nhiệm, sắp xếp xen kẽ thành hàng. Mùi thơm ngào ngạt, trang nghiêm bằng bảy báu, thật đáng ưa thích. Nói “bảy báu” thì một là vàng, hai là bạc, ba là phệ-lưu-ly, bốn là phả-chi-ca (pha lê), năm là xích châu, sáu là chất báu A-thấp-ma-yết-lạp-bà (Aśma-garbha, mã não), bảy là chất báu Mâu-sa-lạc-yết-lạp-bà (Musaragalva, xa cừ). Trong các ao ấy, thường có đủ loại hoa sen nhiều màu, to như bánh xe. Hoa sen xanh hiện sắc xanh, ánh sáng xanh, bóng xanh, hoa sen vàng hiện sắc vàng, ánh sáng vàng, bóng vàng, hoa sen đỏ hiện sắc đỏ, ánh sáng đỏ, bóng đỏ, hoa sen trắng hiện sắc trắng, ánh sáng trắng, bóng trắng. Bốn loại hoa hiện bốn màu, bốn thứ ánh sáng, bốn thứ hình bóng…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, tự nhiên thường có vô lượng vô biên các thứ âm nhạc mầu nhiệm, âm khúc hòa nhã, thật đáng ưa thích. Các loài hữu tình nghe âm thanh mầu nhiệm ấy, các phiền não ác thảy đều tiêu diệt, vô lượng thiện pháp lần lượt tăng trưởng, mau chóng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, trọn khắp cõi đất, do vàng ròng hợp thành. Chạm vào mềm mại, thơm sạch, sáng chói. Vô lượng vô biên các thứ báu mầu nhiệm chen lẫn để trang hoàng…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, ngày đêm sáu thời thường mưa các thứ hoa trời thượng diệu, tươi sáng, thơm sạch, mềm mịn, nhiều màu. Tuy khiến cho kẻ trông thấy [các loại hoa ấy] thân tâm vui sướng, nhưng chẳng tham đắm, tăng trưởng vô lượng vô số công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn cho các hữu tình. Các loài hữu tình ấy, ngày đêm sáu thời, thường cầm [các loại hoa ấy] cúng dường Vô Lượng Thọ Phật. Vào mỗi sáng sớm, họ cầm hoa trời ấy trong khoảng một bữa ăn, bay đến vô lượng thế giới ở những phương khác, cúng dường trăm ngàn câu-chi chư Phật. Ở chỗ chư Phật, mỗi người cầm trăm ngàn câu-chi cây hoa để rải cúng dường. Trở về cõi mình, an hưởng như chư thiên…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, thường có đủ loại chim kỳ diệu đáng yêu nhiều màu, như là ngỗng, nhạn, chim thu, cò, chim hồng, chim hạc, công, két, yết-la-tần-ca(Kalaviṅka, chim ca lăng tần già), cộng mạng v.v… Các loài chim như vậy ngày đêm sáu thời luôn tụ tập, hót tiếng hòa nhã, loài nào tiếng nấy, tuyên dương diệu pháp, như là Niệm, Trụ, Chánh Đoạn, Thần Túc, Căn, Lực, Giác Đạo Chi v.v… rất sâu, vô lượng diệu pháp. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng ấy rồi, ai nấy đều được vô lượng công đức do niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng huân tu thân mình.

          Này Xá Lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? Các loài chim trong cõi kia há có thuộc vào nẻo ác bàng sanh hay không? Đừng nghĩ như thế! Vì cớ sao vậy? Tịnh Độ của đức Phật ấy chẳng có ba đường ác, còn chẳng nghe nói có cái tên ba ác đạo, huống là thật sự có các loài chim thuộc loài bàng sanh do tội nghiệp chiêu cảm ư? Hãy nên biết chúng nó đều do Vô Lượng Thọ Phật biến hóa ra để tuyên dương thông suốt vô lượng pháp âm, nhằm tạo lợi ích, an lạc cho các hữu tình…

          Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, thường có gió mầu nhiệm thổi qua các cây báu và lưới mành báu, vang ra âm thanh vi diệu, ví như phát ra trăm ngàn câu-chi loại nhạc trời cùng lúc hòa tấu, phát ra âm thanh vi diệu, rất đáng ưa thích. Cõi ấy thường có gió mầu nhiệm như thế, thổi động các cây báu và lưới mành báu, khua động các thứ âm thanh vi diệu, nói đủ loại pháp. Chúng sanh trong cõi ấy, nghe tiếng ấy xong, dấy lòng niệm vô lượng công đức của Phật, Pháp, Tăng…

          Do đức Như Lai ấy và các hữu tình có thọ mạng vô lượng, vô số đại kiếp. Do duyên cớ ấy, đức Như Lai trong cõi ấy có hiệu là Vô Lượng Thọ… Do đức Như Lai ấy luôn phóng ra vô lượng vô biên diệu quang, chiếu trọn khắp hết thảy các cõi nước trong mười phương để thực hiện Phật sự, chẳng có chướng ngại. Do duyên cớ ấy, đức Như Lai trong cõi ấy có tên là Vô Lượng Quang…

          Vô Lượng Thọ Phật thường có vô lượng Thanh Văn đệ tử. Hết thảy đều là đại A La Hán, trọn đủ các loại công đức vi diệu. Số lượng ấy vô biên, chẳng thể tính nói… Vô Lượng Thọ Phật thường có vô lượng Bồ Tát đệ tử, hết thảy đều là Nhất Sanh Sở Hệ, trọn đủ các loại công đức vi diệu. Số lượng vô biên, chẳng thể tính nói).

 

* Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh

(大方等大集經)

 

          Kỳ giới trang nghiêm như A Di Đà (CBETA, T13, no.397, p.140, c.21).

          其界莊嚴如阿彌陀。

          (Cõi ấy trang nghiêm như [thế giới của] A Di Đà Phật).

 

* Bảo Tinh Đà La Ni Kinh

(寶星陀羅尼經)

 

          Cụ túc trang nghiêm, hữu như thị tướng, như kim Tây phương An Lạc thế giới (CBETA, T13, no.402, p.557).

          具足莊嚴。有如是相。如今西方安樂世界。

          (Có tướng trọn đủ trang nghiêm như thế, như thế giới An Lạc ở phương Tây trong hiện tại)

 

Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, quyển nhất

(大般若波羅蜜多經卷一)

 

          Thử Phật độ vi diệu trang nghiêm, do như Tây Phương Cực Lạc thế giới (CBETA, T05, no.220).

          此佛土微妙莊嚴。猶如西方極樂世界。

          (Cõi Phật ấy vi diệu trang nghiêm giống như Tây Phương Cực Lạc thế giới).

 

Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, quyển tứ bách nhất

(大般若波羅蜜多經卷四百一)

 

          Thử Phật độ vi diệu trang nghiêm, do như Tây Phương Cực Lạc thế giới (CBETA, T07, no.220, p.2, c4-5).

          此佛土微妙莊嚴。猶如西方極樂世界。

          (Cõi Phật ấy vi diệu trang nghiêm giống như Tây Phương Cực Lạc thế giới).

 

Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, quyển tứ bách thất thập nhất

(大般若波羅蜜多經卷四百七十一)

 

          Thử Phật độ vi diệu trang nghiêm, do như Tây Phương Cực Lạc thế giới (CBETA, T07, no.220, p.428, c6).

          此佛土微妙莊嚴。猶如西方極樂世界。

          (Cõi Phật ấy vi diệu trang nghiêm giống như Tây Phương Cực Lạc thế giới).

 

          Trong sáu trăm quyển Đại Bát Nhã, chỉ có ba chỗ này mà thôi.

 

Đại Bát Niết Bàn Kinh, Thọ Mạng phẩm

(大般涅槃經壽命品)

         

          Địa giai nhu nhuyễn, vô hữu khâu, khư, thổ, sa, lịch, thạch, kinh cức, độc thảo, chúng bảo trang nghiêm, do như Tây Phương Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới (CBETA, T12, no.374, p.371, b21-24)

          地皆柔軟。無有丘墟土沙礫石荊棘毒草。眾寶莊嚴。猶如西方無量壽佛極樂世界

          (Đất đều mềm mại, chẳng có gò, đống, đất, cát, sỏi, đá, gai góc, cỏ độc, trang nghiêm bằng các thứ báu, giống như thế giới Cực Lạc của Vô Lượng Thọ Phật ở phương Tây).

 

Đại Bát Niết Bàn Kinh, Kim Cang Thân phẩm

(大般涅槃經金剛身品)

 

          Nhĩ thời, thế giới quảng bác nghiêm tịnh, phong lạc, an ổn, nhân dân xí thịnh, vô hữu cơ khát, như An Lạc quốc chư Bồ Tát đẳng (CBETA, T12, no.374, p.383, c23-24).

          爾時世界廣博嚴凈。豐樂安隱。人民熾盛。無有饑渴。如安樂國諸菩薩等。

          (Lúc ấy, thế giới mênh mông trang nghiêm, thanh tịnh, sung túc, vui sướng, an ổn, nhân dân đông đúc, chẳng có kẻ đói khát, giống như các vị Bồ Tát trong nước An Lạc vậy).

 

Đại Bát Niết Bàn Kinh, Nhất Thiết Đại Chúng Sở Vấn phẩm

(大般涅槃經一切大眾所問品)

 

          Trang nghiêm vi diệu, do như Tây Phương An Lạc quốc độ (CBETA, T12, no.374, p.424, a8-9).

          莊嚴微妙。猶如西方安樂國土。

          (Trang nghiêm, vi diệu, giống như cõi nước An Lạc ở phương Tây).

 

Đại Bát Niết Bàn Kinh, Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát Phẩm

(大般涅槃經光明遍照高貴德王菩薩品)

 

          Kỳ độ sở hữu trang nghiêm chi sự, tất giai bình đẳng, vô hữu sai biệt, do như Tây Phương An Lạc thế giới (CBETA, T12, no.375, p.752, c19-20).

          其土所有莊嚴之事。悉皆平等。無有差別。猶如西方安樂世界。

          (Tất cả các sự trang nghiêm trong cõi ấy thảy đều bình đẳng, chẳng có sai khác, giống như thế giới An Lạc ở phương Tây).

 

Đại Bát Niết Bàn Kinh Nam Bổn

(大般涅槃經南本)

 

          Đại ý giống như trên đây (CBETA, T12, no.375)

 

* Phật Thuyết Phương Đẳng Bát Nê Hoàn Kinh

(佛說方等般泥洹經)

 

          Tùng hoàng kim trướng, xuất vô ương số ức na-thuật bách thiên chi hảo âm thanh, Không, Vô Tướng, Vô Nguyện thanh, phi Thường, Khổ, Không, phi thân chi thanh, tịch định giới tam-muội trí huệ giải thoát độ tri kiến thanh, điều tổn nhẫn nhục tàm quý thanh, từ bi hỷ hộ an tường phụng hành thanh, bố thí thanh, bố thí độ vô cực thanh, trì giới thanh, trì giới độ vô cực thanh, nhẫn nhục thanh, nhẫn nhục độ vô cực thanh, tinh tấn thanh, tinh tấn độ vô cực thanh, nhất tâm thanh, nhất tâm độ vô cực thanh, trí huệ thanh, trí huệ độ vô cực thanh, thần thông thanh, thần thông độ vô cực thanh, Bồ Tát hạnh thanh, hoài lai Bồ Tát sử chí bất thoái chuyển địa thanh, Bồ Tát đắc bất khởi pháp nhẫn thanh, nhất thiết chư Phật pháp thanh, như Tu Ma Đề quốc A Di Đà Phật quang minh (CBETA, T12, no.378, p.925, c9-18).

          從黃金帳。出無央數億那術百千之好音聲。空無相無願聲。非常苦空非身之聲。寂定戒三昧智慧解脫度知見聲。調損忍辱慚愧聲。慈悲喜護安詳奉行聲。布施聲。布施度無極聲。持戒聲。持戒度無極聲。忍辱聲。忍辱度無極聲。精進聲。精進度無極聲。一心聲。一心度無極聲。智慧聲。智慧度無極聲。神通聲。神通度無極聲。菩薩行聲。懷來菩薩使至不退轉地聲。菩薩得不起法忍聲。一切諸佛法聲。如須摩提國阿彌陀佛光明。

          (Từ trướng hoàng kim, phát ra vô ương số ức na-thuật (na-do-tha) trăm ngàn âm thanh tốt đẹp: Tiếng Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, các thứ tiếng “vô thường, Khổ, Không, chẳng phải là thân”, tiếng tịch định giới tam-muội trí huệ giải thoát vượt khỏi tri kiến, tiếng điều hòa, tổn hại, nhẫn nhục, hổ thẹn, tiếng từ bi, vui vẻ hộ trì an tường phụng hành, tiếng bố thí, tiếng bố thí độ vô cực, tiếng trì giới, tiếng trì giới độ vô cực, tiếng nhẫn nhục, tiếng nhẫn nhục độ vô cực, tiếng tinh tấn, tiếng tinh tấn độ vô cực, tiếng nhất tâm, tiếng nhất tâm độ vô cực, tiếng trí huệ, tiếng trí huệ độ vô cực, tiếng thần thông, tiếng thần thông độ vô cực, tiếng Bồ Tát hạnh, tiếng của những Bồ Tát ôm chí nguyện tái lai, khiến cho đạt đến địa vị Bất Thoái Chuyển, tiếng Bồ Tát đạt được “phápnhẫn chẳng dấy khởi”, tiếng pháp của hết thảy chư Phật, giống như quang minh của A Di Đà Phật trong nước Tu Ma Đề – Cực Lạc).

         

* Đại Bát Nê Hoàn Kinh

(大般泥洹經)

 

          Chúng bảo trang nghiêm, do như Tây Phương Cực Lạc quốc độ, quảng bác nghiêm tịnh, thí như Tây Phương Cực Lạc quốc độ. Kỳ chư chúng sanh, giai tất an lạc (CBETA, T12, no.376).

          眾寶莊嚴。猶如西方極樂國土。廣博嚴凈。譬如西方極樂國土。其諸眾生。皆悉安樂。

          (Các thứ báu trang nghiêm, giống như cõi nước Tây Phương Cực Lạc, mênh mông, trang nghiêm, thanh tịnh, ví như cõi nước Tây Phương Cực Lạc. Các chúng sanh ấy thảy đều an lạc).

 

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh

(金光明最勝王經)

 

          Ư hậu dạ trung, hoạch cam lộ pháp, chứng cam lộ nghĩa. Ngã cập chúng sanh, giai đồng chứng như thị Diệu Giác, do như Vô Lượng Thọ Phật (CBETA, T16, no.665, p.416, a26-29).

          於後夜中。獲甘露法。證甘露義。我及眾生。皆同證如是妙覺。猶如無量壽佛。

          (Vào cuối đêm, đạt được pháp cam lộ, chứng nghĩa cam lộ. Ta và chúng sanh đều cùng chứng Diệu Giác như thế, giống như Vô Lượng Thọ Phật).

 

Hiệp Bộ Kim Quang Minh Kinh[1]

(合部金光明經)

 

          Đồng đắc Nhất Thiết Trí trí, do như Vô Lượng Thọ Phật (CBETA, T16, no.664, p.371, a7-9).

          同得一切智智。猶如無量壽佛。

          (Cùng đắc trí Nhất Thiết Trí, giống như Vô Lượng Thọ Phật).

 

Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

(維摩詰所說經)

          
          Kỳ chư Bồ Tát, Thanh Văn, thiên
, nhân, thực thử phạn giả, thí như Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm quốc chư Bồ Tát dã (CBETA, T14, no.475, p.552, c18-19).

          其諸菩薩聲聞天人。食此飯者。譬如一切樂莊嚴國諸菩薩也。

          (Các vị Bồ Tát, Thanh Văn, trời, người ăn cơm này sẽ như các vị Bồ Tát trong cõi Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm).

 

Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh

(佛說維摩詰經)

 

          Khí tẩu an thân, thí như Nhất Thiết An Dưỡng Quốc trung chư Bồ Tát dã (CBETA, T14, no.474, p.532).

          氣走安身。譬如一切安養國中諸菩薩也。

          (Đi đứng nhẹ nhàng, thân an ổn, ví như các vị Bồ Tát trong cõi Nhất Thiết An Dưỡng).

 

Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh

(說無垢稱經)

 

          Thí như Nhất Thiết An Lạc Trang Nghiêm thế giới (CBETA, T14, no.476, p.580, b3).

          譬如一切安樂莊嚴世界。

          (Ví như thế giới Nhất Thiết An Lạc Trang Nghiêm).

 

Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh

(佛說灌頂經)

 

          Quốc độ thanh tịnh vô ngũ trược, vô ái dục, vô ý cấu, dĩ bạch ngân, lưu ly vi địa. Cung, điện, lâu, các, tất dụng thất bảo, diệc như Tây Phương Vô Lượng Thọ quốc (CBETA, T21, no.1331, p.533, a16-18).

          國土清凈無五濁。無愛欲。無意垢。以白銀琉璃為地。宮殿樓閣。悉用七寶。亦如西方無量壽國。

          (Cõi nước thanh tịnh, không có ngũ trược, chẳng có ái dục, chẳng có phiền não nơi ý. Dùng bạc trắng và lưu ly làm đất. Cung, điện, lầu, gác đều dùng bảy báu [để tạo dựng], cũng như cõi nước Vô Lượng Thọ ở phương Tây).

 

Phật Thuyết Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(佛說藥師如來本願功德經)

 

          Lưu ly vi địa, thành khuyết viên tường, môn song đường các, trụ lương đấu củng, châu táp la võng, giai thất bảo thành, như Cực Lạc quốc (CBETA, T14, no.449, p.402, a21-22).

          琉璃為地。城闕垣牆。門窗堂閣。柱樑斗拱。周匝羅網。皆七寶成。如極樂國。

          (Lưu ly làm đất, thành trì, cung điện, tường vây quanh, cửa cái, cửa sổ, đền, gác, cột, kèo, con sơn chồng đấu[2], lưới mành bao quanh, đều do bảy báu tạo thành như cõi Cực Lạc).

 

Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(藥師琉璃光七佛本願功德經)

 

          Thắng diệu âm nhạc, bất cổ tự minh. Thí như Tây Phương Cực Lạc thế giới công đức trang nghiêm (CBETA, T14, no.451, p.411, c10-12).

          勝妙音樂。不鼓自鳴。譬如西方極樂世界功德莊嚴。

          (Âm nhạc thù thắng, nhiệm mầu, chẳng tấu mà tự vang ra tiếng, ví như công đức trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới).

 

* Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh

(勝思惟梵天所問經)

         

          Ngã kiến An Lạc quốc, Vô Lượng Thọ Phật quốc, vô khổ cập khổ danh (CBETA, T15, no.587, p.64, b13-14).

          我見安樂國。無量壽佛國。無苦及苦名。

          (Ta thấy cõi An Lạc là cõi của Vô Lượng Thọ Phật chẳng có khổ và tên gọi của sự khổ).

 

* Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh

(思益梵天所問經)

 

          Ngã kiến Hỷ Lạc quốc, cập kiến An Lạc độ, thử trung vô khổ não, diệc vô khổ não danh (CBETA, T15, no.586, p.35, a1-2).

          我見喜樂國,及見安樂土,此中無苦惱,亦無苦惱名。

          (Ta thấy cõi Hỷ Lạc và cõi An Lạc, trong những cõi ấy không có khổ não, mà cũng chẳng có danh xưng khổ não).

 

Trì Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh

(持心梵天所問經)

 

          Ngô diệc đổ kiến Diệu Lạc thế giới, cập phục tỉnh sát An Lạc Phật độ, bỉ vô khổ não (CBETA, T15, no.585, p.2, c10-11).

          吾亦睹見妙樂世界。及復省察安樂佛土。彼無苦惱。

          (Ta cũng trông thấy thế giới Diệu Lạc và lại xem xét cõi Phật An Lạc, những cõi ấy không có khổ não).

 

Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh

(月燈三昧經)

 

          An Lạc chư chúng sanh, vĩnh bất đọa ác thú. Bỉ quốc chư chúng sanh, đoạn trừ chư ác đạo. Di Đà cứu thế giả, tu trị Phật thế giới. Bổn tập bất phóng dật, bất khả tư nghị kiếp. Nhữ đẳng vật hoài nghi, bỉ Phật tự tại lực (CBETA, T15, no.639, p.597, b22-27).

          安樂諸眾生。永不墮惡趣。彼國諸眾生。斷除諸惡道。彌陀救世者。修治佛世界。本習不放逸。不可思議劫。汝等勿懷疑。彼佛自在力。

          (Các chúng sanh trong cõi An Lạc vĩnh viễn chẳng đọa vào đường ác. Các chúng sanh trong cõi ấy đoạn trừ các ác đạo. Đấng cứu thế Di Đà đã xây dựng hoàn thiện thế giới Phật, Ngài vốn tu tập hạnh chẳng buông lung trong chẳng thể nghĩ bàn kiếp. Các ngươi đừng hoài nghi sức tự tại của đức Phật ấy).

 

* Thập Trụ Đoạn Kết Kinh

(十住斷結經)

 

          Ngô kiến Diệu Lạc An Minh Phật độ, diệc kiến Vĩnh Tịch Vô Lượng Phật quốc. Bỉ vô ưu khổ phiền não chi nạn (CBETA, T10, no.309, p.1042, a15-16).

          吾見妙樂安明佛土。亦見永寂無量佛國。彼無憂苦煩惱之難。

          (Ta thấy cõi Phật Diệu Lạc An Minh, cũng thấy cõi Phật Vĩnh Tịch Vô Lượng, những cõi ấy không có tai nạn sầu khổ, phiền não).

 

* Bi Hoa Kinh

(悲華經)

 

          Toái phá Tu Di như giới tử, quá chư toán số, trừ Phật Thế Tôn, Nhất Thiết Trí giả, dư vô năng tri. Như nhất giới tử, vi nhất Tứ Thiên Hạ. Thử Liên Hoa thế giới, sở hữu Tứ Thiên Hạ số, tận thử giới tử, hữu chư Bồ Tát, sung mãn kỳ trung, do như Tây Phương Cực Lạc thế giới chư Bồ Tát đẳng. Kỳ viên quán trung, hữu chư bảo thụ. Kỳ thụ phục hữu chủng chủng hành diệp, hoa quả mậu thịnh, chủng chủng bảo y, thiên tràng, phan, cái, thiên quan, bảo sức, chân châu anh lạc. Sở hữu trang nghiêm, thí như Tây phương An Lạc thế giới (CBETA, T03, no.157).

          碎破須彌如芥子。過諸算數。除佛世尊。一切智者。余無能知。如一芥子。為一四天下。此蓮華世界。所有四天下數。盡此芥子。有諸菩薩。充滿其中猶如西方極樂世界諸菩薩等。其園觀中。有諸寶樹。其樹復有種種莖葉。華果茂盛。種種寶衣。天幢幡蓋。天冠寶飾。真珠瓔珞。所有莊嚴。譬如西方安樂世界。

          (Đập nát núi Tu Di như hạt cải, [số lượng các hạt cải ấy] vượt ngoài khả năng tính đếm, trừ Phật Thế Tôn là đấng Nhất Thiết Trí, những kẻ khác không ai có thể biết được! Nếu như coi một hạt cải là một Tứ Thiên Hạ, số lượng tất cả các Tứ Thiên Hạ trong thế giới Liên Hoa [nhiều đến nỗi] trọn hết số lượng các hạt cải [vừa nói trên đây], có các vị Bồ Tát đầy ắp trong đó, giống như các vị Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong các vườn, đài, có các cây báu. Cây báu ấy lại có các thứ thân, lá, hoa quả tươi tốt, sum xuê, các thứ y báu, tràng, phan, lọng cõi trời, mão trời, đồ trang sức báu, các chuỗi ngọc chân châu, tất cả các món trang nghiêm ví như Tây phương An Lạc thế giới).

 

Đại Thừa Đại Bi Phân Đà Lợi Kinh

(大乘大悲分陀利經)

 

          Như thị thế giới, Bồ Tát mãn trung, thí như An Lạc quốc độ, Bồ Tát sung biến (CBETA, T03, no.158, p.225, c4-5).

          如是世界。菩薩滿中。譬如安樂國土。菩薩充遍。

          (Thế giới như thế, Bồ Tát đầy ắp trong đó, ví như cõi nước An Lạc, Bồ Tát đầy ắp trọn khắp).

 

Phật Thuyết A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh

(佛說阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經)

 

          Thời A Di Đà Phật, dữ chư đại chúng, tọa bảo liên hoa. Kỳ độ tùng lâm hoa quả tiên phu, gián thác nghiêm sức. Phục hữu thụ vương, hương phong phức phiến, xuất hòa nhã âm, thuần thuyết vô thượng bất tư nghị pháp. Phục hữu diệu hương, danh Nhật Quang Minh, nhược can đồ hương, diệc thị bảo hương. A Di Đà Phật ư đại bảo hoa, kết già phu tọa, hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Quán Thế Âm, nhị danh Đại Thế Chí, thị lập tả hữu. Vô số Bồ Tát châu táp vi nhiễu (CBETA, T12, no.370, p.353, a15-21).

          時阿彌陀佛。與諸大眾。坐寶蓮花。其土叢林花果鮮敷。間錯嚴飾。復有樹王。香風馥扇。出和雅音。純說無上不思議法。復有妙香。名日光明。若干塗香。亦是寶香。阿彌陀佛。於大寶華。結跏趺坐。有二菩薩。一名觀世音。二名大勢至。是二菩薩。侍立左右。無數菩薩。周匝圍繞。

          (Khi đó, A Di Đà Phật và các đại chúng ngồi trên hoa sen báu. Cõi ấy, rừng rậm, hoa quả tươi tốt, xen kẽ để trang hoàng. Lại có cây chúa, gió thơm tỏa hương sực nức, vang ra tiếng hòa nhã, thuần nói pháp vô thượng chẳng nghĩ bàn. Lại có diệu hương tên là Nhật Quang Minh, bao nhiêu hương bôi cũng là hương báu. A Di Đà Phật ngồi xếp bằng trên hoa báu lớn. Có hai vị Bồ Tát, một tên là Quán Thế Âm, vị thứ hai tên là Đại Thế Chí, hai vị Bồ Tát ấy đứng hầu hai bên. Vô số Bồ Tát vây khắp chung quanh).

 

* Ương Quật Ma La Kinh

(央掘摩羅經)

 

          Tam thiên đại thiên thế giới, địa bình như chưởng, sanh nhu nhuyễn thảo, như An Lạc quốc, bình như trừng thủy, nhu nhuyễn lạc xúc, do như tăng khoáng, như An Lạc quốc, vô chư Ngũ Trược (CBETA, T02, no.120).

          三千大千世界。地平如掌。生柔軟草。如安樂國。平如澄水。柔軟樂觸。猶如繒纊。如安樂國。無諸五濁。

          (Tam thiên đại thiên thế giới, đất phẳng như lòng bàn tay, sanh ra cỏ mềm mịn như trong cõi An Lạc. Phẳng như nước lặng, mềm mại chạm vào [sẽ cảm thấy] vui sướng, giống như [chạm vào] lụa, bông, như cõi An Lạc chẳng có các món Ngũ Trược).

 

* Đại Thừa Mật Nghiêm Kinh

(大乘密嚴經)

 

          Thử độ chư cung điện, như liên bị chúng sức. Thị nhất thiết Như Lai, tịnh trí chi diệu tướng. Phật cập chư Bồ Tát, thường tại ư kỳ trung. Thế Tôn hằng trụ Thiền, tịch tĩnh tối vô thượng, y tự nan tư định, hiện ư chúng diệu sắc. Sắc tướng vô hữu biên, phi dư sở năng kiến, Cực Lạc quốc trang nghiêm. Thế Tôn Vô Lượng Thọ. Chư tu quán hành giả, sắc tướng diệc giai nhiên (CBETA, T16, no.682, p.754,b29-c8).

          此土諸宮殿。如蓮備眾飾。是一切如來。凈智之妙相。佛及諸菩薩。常在於其中。世尊恆住禪。寂靜最無上。依自難思定。現於眾妙色。色相無有邊。非余所能見。極樂國莊嚴。世尊無量壽。諸修觀行者。色相亦皆然。

          (Các cung điện trong cõi ấy, như hoa sen trọn đủ các thứ trang hoàng. Đấy là diệu tướng tịnh trí của hết thảy các đức Như Lai. Phật và các vị Bồ Tát thường ở trong ấy. Đức Thế Tôn luôn ở trong Thiền, tịch tĩnh vô thượng nhất. Ngài nương vào môn Định khó nghĩ ngợi để hiện ra các thứ sắc mầu nhiệm. Sắc tướng chẳng có ngằn mé, ta chẳng thể thấy được! Cõi Cực Lạc trang nghiêm, Thế Tôn Vô Lượng Thọ, những người tu quán hạnh, sắc tướng cũng đều như thế).

 

Phật Thuyết Giảo Lượng Nhất Thiết Phật Sát Công Đức Kinh

(佛說較量一切佛剎功德經)

 

          Nhĩ thời, hội trung hữu nhất Bồ Tát Ma Ha Tát, danh Bất Tư Nghị Quang Vương, tức tùng tòa khởi, chiêm thị đại hội chư Bồ Tát dĩ, nhi bạch chúng ngôn: “Nhữ chư Phật tử, kim đương đế thính, thử Sa Bà thế giới mãn nhất đại kiếp, giảo lượng thời phần, thị bỉ Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật sát nhất trú dạ” (CBETA, T10, no.290, p.592, a29-b4).

          爾時會中有一菩薩摩訶薩。名不思議光王。即從座起。瞻視大會諸菩薩已。而白眾言。汝諸佛子。今當諦聽。此娑婆世界滿一大劫。較量時分。是彼西方極樂世界無量壽佛剎一晝夜。

          (Khi ấy, trong hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Bất Tư Nghị Quang Vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn ngắm các vị Bồ Tát trong đại hội xong, liền thưa với mọi người rằng: “Các vị Phật tử! Nay hãy lắng nghe. Thế giới Sa Bà này trọn hết một đại kiếp, so sánh thời gian thì là một ngày đêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức cõi nước của Vô Lượng Thọ Phật”).

 

Phật Thuyết Phát Bồ Đề Tâm Phá Chư Ma Kinh

(佛說發菩提心破諸魔經)

 

          Hữu Phật danh Vô Lượng Quang, phát như thị ngôn: Dĩ nguyện lực cố, quả báo thành tựu (CBETA, T17, no.838, p.900, b14-15).

          有佛名無量光。發如是言。以願力故。果報成就。

          (Có Phật tên là Vô Lượng Quang, nói như thế này: “Do vì nguyện lực, quả báo thành tựu”).

 

Phật Thuyết Thánh Bảo Tạng Thần Nghi Quỹ Kinh

(佛說聖寶藏神儀軌經)

 

          Tây Phương hữu quốc, danh vi Cực Lạc. Bỉ hữu Thế Tôn, danh Vô Lượng Quang Như Lai. Bỉ hữu Bồ Tát, danh Quán Tự Tại, nhi trụ ư bỉ (CBETA, T21, no.1284, p.351, c23-25).

          西方有國。名為極樂。彼有世尊。名無量光如來。彼有菩薩。名觀自在。而住於彼。

          (Phương Tây có cõi nước, tên là Cực Lạc. Cõi ấy có Thế Tôn, tên là Vô Lượng Quang Như Lai. Cõi ấy có Bồ Tát tên là Quán Tự Tại, trụ trong cõi ấy).

 

* Hậu Xuất A Di Đà Phật Kệ

(后出阿彌陀佛偈)

 

          Quốc giới bình di dị, phong lạc đa thượng nhân, bảo thụ nhược can chủng. La liệt tùng tương sanh. Bổn hành chi diệp hoa. Chủng chủng các dị hương, thuận phong nhật tam động. Hấp tập như hoa sanh. Đọa địa như thủ bố. Tạp xí thượng phổ bình. Nhất thiết vô chư sơn. Hải thủy cập chư nguyên. Đản hữu hà thủy lưu, âm hưởng như thuyết kinh. Thiên nhân nhập thủy hý, tại ý sở dục vọng. Linh thủy tề cách kiên. Ý nguyện tùy niệm đắc. Phật thọ thập phương sa. Quang minh phổ vô biên. Bồ Tát cập đệ tử. Bất khả toán xưng lượng (CBETA, T12, no.378, p.364, b17-28).

          國界平夷易。豐樂多上人。寶樹若干種。羅列叢相生。本莖枝花。種種各異香。順風日三動。翕習如花生。墮地如手布。雜廁上普平。一切無諸山。海水及諸源。但有河水流。音響如說經。天人入水戲。在意所慾望。令水齊胳肩。意願隨念得。佛壽十方沙。光明普無邊。菩薩及弟子。不可算稱量。

          (Cõi nước phẳng, dễ đi. Giàu, vui, lắm thượng nhân. Cây báu bao nhiêu loại, rậm dầy cùng sanh trưởng. Gốc, thân, cành, lá, hoa. Đủ loại hương khác nhau, theo gió thoảng lan truyền, mỗi ngày đủ ba lượt. Tập hợp như hoa sanh, rơi xuống như gieo rắc, xen kẽ trọn đều khắp. Hết thảy chẳng có núi, nước biển và các nguồn, chỉ có nước sông chảy, âm vang như nói kinh. Trời người vào nước giỡn, nước thuận theo lòng mong. Muốn ngập eo, nách, vai, vừa nghĩ liền thỏa nguyện. Phật thọ lâu vô số, quang minh trọn vô biên. Bồ Tát và đệ tử, chẳng thể tính, nói, lường).

 

Đại Trí Độ Luận quyển tứ

(大智度論卷四)

 

          Sư Tử Cổ Âm Vương Phật thời, nhân thọ thập vạn tuế. Minh Vương Phật thời, nhân thọ thất bách A-tăng-kỳ kiếp. A Di Đà Phật quốc, nhân thọ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp (CBETA, T25, no.1509, p.93, a26-29).

          師子鼓音王佛時。人壽十萬歲。明王佛時。人壽七百阿僧祇劫。阿彌陀佛國。人壽無量阿僧祇劫。

          (Vào thời Sư Tử Cổ Âm Vương Phật, loài người thọ mười vạn tuổi. Vào thời Minh Vương Phật, con người thọ bảy trăm A-tăng-kỳ kiếp. Trong cõi của A Di Đà Phật, người ta thọ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp).

 

Đại Trí Độ Luận quyển tam thập tứ

(大智度論卷三十四)

 

          Hữu Phật vị Nhất Thừa thuyết pháp, thuần dĩ Bồ Tát vi Tăng. Hữu Phật, Thanh Văn, Bồ Tát tạp dĩ vi Tăng. Như A Di Đà Phật, Bồ Tát Tăng đa, Thanh Văn Tăng thiểu, dĩ thị cố, nguyện dĩ vô lượng Bồ Tát vi Tăng (CBETA, T25, no.1509, p.311, c12-15).

          有佛為一乘說法。純以菩薩為僧。有佛聲聞菩薩雜以為僧。如阿彌陀佛國。菩薩僧多。聲聞僧少。以是故。願以無量菩薩為僧。

          (Có vị Phật vì Nhất Thừa thuyết pháp, thuần dùng Bồ Tát làm Tăng. Có vị Phật dùng cả Thanh Văn lẫn Bồ Tát làm Tăng. Như A Di Đà Phật, Bồ Tát Tăng nhiều, Thanh Văn Tăng ít. Do vì cớ ấy, nguyện dùng vô lượng Bồ Tát làm Tăng).

 

Đại Trí Độ Luận quyển cửu thập nhị

(大智度論卷九十二)

 

          Hữu Phật quốc độ, nhất thiết thụ mộc, thường xuất chư pháp Thật Tướng âm thanh. Sở vị vô sanh, vô diệt, vô tác, vô khởi đẳng. Chúng sanh đản văn thị diệu âm, bất văn dị thanh. Chúng sanh lợi căn cố, tiện đắc chư pháp Thật Tướng. Như thị Phật độ trang nghiêm, danh vi tịnh Phật độ. Như A Di Đà đẳng kinh trung thuyết (CBETA, T25, no.1509, p.708, c6-10).

          有佛國土。一切樹木。常出諸法實相音聲。所謂無生無滅無作無起等。眾生但聞是妙音。不聞異聲。眾生利根故。便得諸法實相。如是佛土莊嚴。名為凈佛土。如阿彌陀等經中說。

          (Có cõi Phật, hết thảy cây cối thường vang ra âm thanh [diễn nói] Thật Tướng của các pháp, như là vô sanh, vô diệt, vô tác, vô khởi v.v… Chúng sanh chỉ nghe tiếng mầu nhiệm ấy, chẳng nghe những thứ tiếng khác. Chúng sanh do lợi căn bèn đắc Thật Tướng của các pháp. Cõi Phật trang nghiêm như thế, gọi là cõi Phật thanh tịnh, như trong kinh A Di Đà v.v… đã nói).

 

* Kim Cang Đảnh Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận

(金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論)

 

          Tây phương A Di Đà Phật, do thành Diệu Quán Sát Trí, diệc danh Liên Hoa Trí, diệc danh Chuyển Pháp Trí dã (CBETA, T32, no.1665, p.573, c26-27).

          西方阿彌陀佛。由成妙觀察智。亦名蓮華智。亦名轉法智也。

          (Tây Phương A Di Đà Phật do thành tựu Diệu Quán Sát Trí, còn có tên là Liên Hoa Trí, cũng gọi là Chuyển Pháp Trí).

 

A Di Đà Phật Thánh Điển

Phần 4 hết

 

[1] Sở dĩ gọi là Hiệp Bộ Kim Quang Minh là vì trước đó, vào đời Lương, ngài Đàm Vô Sấm đã dịch kinh Kim Quang Minh thành bốn quyển, chỉ có mười tám phẩm. Sau đó, vào đời Hậu Châu, ngài Da Xá Quật Đa dịch lần nữa, thành năm quyển, gồm hai mươi bốn phẩm (nay đã thất truyền). Đến đời Hậu Lương, ngài Chân Đế bèn dịch thêm bốn phẩm Tam Thân Phân Biệt, Nghiệp Chướng Diệt, Đà La Ni Tối Tịnh Địa và Y Không Mãn Nguyện. Ngài lại tìm trong nguyên văn của Phạn bổn, dịch thêm hai phẩm Chúc Lũy và Ngân Chủ Đà La Ni để ghép vào bổn đời Lương, châm chước với bổn đời Châu, tạo thành một bản tổng hợp gồm hai mươi bốn phẩm, gọi chung là Hiệp Bộ Kim Quang Minh Kinh.

[2] Đây là từ ngữ trong kiến trúc cổ Việt Nam để dịch chữ “đấu củng”. Kết cấu của đấu củng rất phức tạp, bao gồm một hệ thống mộng mẹo rất phức tạp để đỡ mái và giảm sức nặng trên các đầu cột, cũng như phân bố cho đều sức nâng đỡ, giằng kéo của các xà nhà.

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter